vanban.org

Bản án 03/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lưu Huy Ch.

Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H phải trả cho anh Lưu Huy Chsố tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Kể từ ngày anh Lưu Huy Chcó đơn yêu cầu thi hành án nếu anh H và chị H không tự nguyện thi hành đối với khoản phải trả cho anh Ch thì anh H và chị H phải trả lãi đối với số tiền c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lưu Huy Ch + Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lưu Huy Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2018/DS- ST
Ngày 15/11/2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Cao Thượng;

2. Bà Đồng Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vàng A Vừ.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/TLST-DS ngày 23/7/2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-DS ngày 12/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2018/QĐST-DS ngày 29/10/2018 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Anh Lưu Huy Ch- Sinh năm: 1972; Địa chỉ: Thôn 4, xã Pom L, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên (có mặt).

2- Các bị đơn: Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1974 và chị Vũ Thị H - Sinh năm: 1973 cùng địa chỉ: Bản Kéo, xã Chiềng S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 29/6/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là anh Lưu Huy Chtrình bày:

Do có sự quen biết và buôn bán làm ăn với nhau nên ngày 29/12/2016 anh Lưu Huy Chcó cho vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H vay số tiền 200 .000.000đ để làm vốn kinh doanh, tiền lãi theo thỏa thuận là 2%/tháng và hẹn ngày 29/12/2017 vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H trả đủ cho anh Lưu Huy Chsố tiền trên cộng với lãi phát sinh. Nhưng đến ngày hẹn trả nợ vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H không trả, từ đó cho đến nay vợ chồng anh H Chị H đã không trả cho anh Ch số tiền trên như thỏa thuận. Nay anh Ch yêu cầu Tòa án buộc anh vợ chồng anh H, Chị H phải trả cho anh Ch số tiền gốc đã vay là: 200.000.000đ và tiền lãi của số tiền 200.000.000đ kể từ ngày 29/12/2016 đến ngày 29/6/2018 tổng 18 tháng là 72.000.000. Tổng số tiền gốc và lãi anh Ch yêu cầu anh H và chị H phải trả là: 272.000.000đ (Hai trăm bảy hai triệu đồng). Ngoài ra anh Ch không có đề nghị gì khác.

Sau khi thụ lý vụ án, chỉ có chị Vũ Thị Hường có mặt còn anh H đi làm ăn không có địa chỉ cố định, Tòa án huyện Điện Biên Đông đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập anh H, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho vợ anh là chị Vũ Thị Hường, thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng trên tại bản Kéo và UBND xã Chiềng Sơ nơi anh H cư trú.

Tại bản tự khai ngày 26/7/2018 bị đơn là chị Vũ Thị Hường trình bày:

Chị H thừa nhận ngày 29/12/2016, vợ chồng chị có vay của anh Lưu Huy Chsố tiền 200.000.000đ và hẹn đến ngày 29/12/2017 sẽ trả số tiền trên cho anh Ch nhưng do việc làm ăn không thuận lợi, vợ chồng chị không trả được số tiền trên cho anh Ch theo như thỏa thuận mà mới trả được cho anh Ch 50.000.000đ. Số tiền còn lại vợ chồng Chị H sẽ trả cho anh Ch sau. Còn đối với lãi suất 2% Chị H đề nghị anh Ch cho xin.

Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 09/10/2018 nhưng vợ chồng anh H và chị H đều vắng mặt không có lý do. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên không thống nhất được việc giải quyết vụ án, ngày 29/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông mở phiên tòa xét xử nhưng vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H vắng mặt, phiên tòa được hoãn lại vào ngày 15 tháng 11 năm 2018 nhưng vợ chồng anh H Chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị H.

Tại phiên tòa anh Lưu Huy Chkhông cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mà xin rút yêu cầu khởi kiện đối với phần lãi và không yêu cầu anh H, Chị H thanh toán số tiền lãi là 72.000.000đ chỉ yêu cầu Tòa án buộc anh H và chị H thanh toán cho anh Ch khoản tiền là 200.000.000đ trừ 50.000.000đ Chị H đã trà cho anh Ch vào ngày 20/01/2018. Tổng số tiền còn lại Chị H anh H phải trả cho anh Ch số tiền là: 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), ngoài ra anh Ch không có đề nghị gì khác.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật và việc giải quyết vụ án: Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Từ khi thụ lý cho đến trước khi HĐXX vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện và xin rút yêu cầu khởi kiện đối với phần lãi của nguyên đơn anh Lưu Huy Ch; Căn cứ vào Điều 117; khoản 2 Điều 357; Điều 463; khoản 4 Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015: Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H phải trả cho anh Lưu Huy Chsố tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Anh H và chị H phải chịu án phí DSST có giá ngạch là: 7.500.000đ. Anh Ch không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của anh Lưu Huy Chvề việc yêu cầu anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H trả cho anh Ch số tiền gốc 200.000.000đ và số tiền lãi: 72.000.000đ tiền lãi. Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và vụ án thuộc trường hợp Tòa án không tiến hành hòa giải được vì các bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt được quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 29/10/2018 Tòa án đã mở phiên tòa xét xử nhưng do các bị đơn anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn H. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh H và chị H.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn là anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H cùng địa chỉ ở: Bản Kéo, xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung vụ án: Do có sự quen biết và có buôn bán làm ăn với nhau nên ngày 29/12/2016 anh Lưu Huy Chcó cho vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H vay số tiền 200.000.000đ để làm vốn kinh doanh, tiền lãi theo thỏa thuận là 2%/tháng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H hẹn ngày 29/12/2017 trả đủ cho anh Lưu Huy Chsố tiền trên cộng với lãi phát sinh. Nhưng đến ngày hẹn trả nợ vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H không trả, từ đó cho đến nay vợ chồng anh H Chị H đã không trả anh Ch số tiền trên như thỏa thuận. Nay anh Ch yêu cầu Tòa án buộc anh vợ chồng anh H, Chị H phải trả cho anh số tiền gốc đã vay là: 200.000.000đ và tiền lãi của số tiền 200.000.000đ kể từ ngày 29/12/2016 đến ngày 29/6/2018 tổng là 18 tháng là 72.000.000. Tổng số tiền gốc và lãi anh Ch yêu cầu anh H và chị H phải trả là: 272.000.000đ.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh Lưu Huy Chkhởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H trả số nợ 272.000.000đ thấy rằng: Việc anh Ch cho vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H vay số tiền trên là có căn cứ, lời khai của anh Lưu Huy Chphù hợp với giấy vay tiền ngày 29/12/2016 với số tiền 200.000.000đ và tiền lãi của số tiền 200.000đ kể từ ngày 29/12/2016 đến ngày 29/6/2018 tổng là 18 tháng là 72.000.000. Tổng số tiền gốc và lãi anh Ch yêu cầu anh H và chị H phải trả là: 272.000.000đ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Ch xin rút yêu cầu về phần tiền lãi là 72.000.000đ mà chỉ yêu cầu Tòa án buộc chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn H trả cho anh số tiền 200.000.000đ trừ số tiền 50.000.000đ Chị H đã trả cho anh Ch vào ngày 20/01/2016. Tổng số tiền Chị H và anh H phải trả cho anh Ch là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng). Xét thấy việc rút yêu cầu của anh Ch là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này của anh Lưu Huy Ch.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H còn nợ anh Lưu Huy Chsố tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) vợ chồng anh H Chị H mới trả được cho anh Ch 50.000.000đ hiện còn lại số tiền 150.000.0000đ là đúng thực tế, anh Lưu Huy Chkhởi kiện để yêu cầu anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H trả số nợ trên là có căn cứ, đúng với quy định tại các Điều 166, 463, 466, 469 và 470 của Bộ luật dân sự 2015.

. Xét ý kiến của bị đơn chị Vũ Thị Hường: Tại bản tự khai đề ngày 26/7/2018 bị đơn là chị Vũ Thị Hường thừa nhận ngày 29/12/2016, vợ chồng chị có vay của anh Lưu Huy Chsố tiền 200.000.000đ và hẹn đến ngày 29/12/2017 sẽ trả số tiền trên cho anh Ch vợ chồng chị đã trả nhưng do việc làm ăn không thuận lợi, vợ chồng chị không trả được số tiền trên cho anh Ch, mà chị mới trả được cho anh Ch 50.000.000đ. Số tiền còn lại vợ chồng Chị H đồng ý trả và sẽ thu xếp trả cho anh Ch sau.

Từ những phân tích trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Huy Chbuộc chị Nguyễn Thị Hường và anh Nguyễn Văn Hoàng phải trả cho anh Lưu Huy Chsố tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng). Đình chỉ đối với phần rút yêu cầu khởi kiện về số tiền lãi 72.000.000đ của anh Lưu Huy Ch.

. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Huy ChTòa án chấp nhận nên chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là đúng với khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trả lại cho anh Lưu Huy Chsố tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Anh H và chị H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 150.000.000đ (150.000.000đ x 5% = 7.500.000đ).

- Anh Ch không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả cho anh Ch số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm: 6.800.000đ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 117; khoản 2 Điều 357; Điều 463; khoản 4 Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lưu Huy Ch.

1. Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H phải trả cho anh Lưu Huy Chsố tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày anh Lưu Huy Chcó đơn yêu cầu thi hành án nếu anh H và chị H không tự nguyện thi hành đối với khoản phải trả cho anh Ch thì anh H và chị H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của anh Lưu Huy Chvề phần tiền lãi là 72.000.000đ (Bảy mươi hai triệu đồng chẵn).

3. Về án phí Dân sự sơ thẩm.

3.1. Anh H, Chị H phải chịu: 7.500.000đ (bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

3.2. Anh Lưu Huy Chkhông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Ch số tiền 6.800.000đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2010/02649, ngày ngày 23 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Lưu Huy Chđược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/11/2018. Anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

C¨n cø §iÒu 26 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù b¸o cho ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù biÕt: Trong tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ĐiÒu 6, 7 vµ 9 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù; Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ