vanban.org

Bản án 03/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A.

[1]. Về nghĩa vụ trả tiền: Buộc bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K phải trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền 445.025.820 đồng, bao gồm số tiền gốc 270.000.000 đồng và 175.025.820 đồng tiền lãi phát sinh đến ngày tuyên án sơ thẩm (16/5/2018) theo Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD ngày 29/3/2003 và Gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KINH MÔN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2018/DS- ST
Ngày 16/5/2018
“V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Chuộng

Bà Đinh Thị Tin

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Hưng - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 16/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2017/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2017/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A

Địa chỉ: Tháp A, số 35 Hàng V, quận H, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP A; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc B - Giám đốc Ngân hàng TMCP A - Chi nhánh TQ; người được ông Nguyễn Ngọc B ủy quyền lại: Ông Lê Văn C - Trưởng phòng Quản lý rủi ro - Ngân hàng TMCP A - Chi nhánh TQ (Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 0703/QĐ-BIDV.TNQN ngày 14/11/2017); có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1969 và ông Trần Văn K, sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu BN, thị trấn M, huyện K, tỉnh Hải Dương; đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày: Ngày 29/3/2013, Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh O - Phòng giao dịch M và vợ chồng bà Th, ông K ký Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD với các nội dung chính như sau: Ngân hàng TMCP Q đồng ý cho bà Th và ông K vay số tiền 300.000.000 đồng (Giấy nhận nợ số T.A.004.13/GNN ngày 29/3/2013); thời hạn vay là 60 tháng; lãi suất trong hạn là 1,25%/01 tháng và sẽ được điều chỉnh khi mặt bằng lãi suất có biến động theo Quyết định của Giám đốc Ngân hàng TMCP Q; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất trả theo tháng; nợ gốc được phân kỳ trả 06 tháng một lần, lần đầu vào ngày 27/9/2013, lần sau cùng vào ngày 27/3/2018, mỗi lần trả 30.000.000 đồng. Cùng ngày 29/3/2013, Ngân hàng TMCP Q và vợ chồng bà Th, ông K đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0040.13/HĐTC có công chứng của Văn phòng công chứng P và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K, theo đó bà Th và ông K đồng ý thế chấp các tài sản gồm: Quyền sử dụng thửa đất số 166 tờ bản đồ số 03, diện tích 175m2 tại thị trấn M, huyện K, tỉnh Hải Dương và tài sản gắn liền với đất là nhà ở 02 tầng, bê tông cốt thép, tường gạch chỉ diện tích 180 m2 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Th và ông K do UBND huyện K cấp ngày 03/4/2009, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01867 để đảm bảo nghĩa vụ trả tiền vay.

Theo Quyết định số 589/QĐ-NHNN ngày 25/4/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sáp nhập Ngân hàng TMCP Q vào Ngân hàng TMCP A; Công văn số 445/QUN3 ngày 01/7/2015 của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Quảng Ninh về việc chấp thuận thay đổi chi nhánh quản lý 03 Phòng giao dịch thuộc Ngân hàng TMCP Q chi nhánh H; Quyết định số 4864/QĐ-BIDV ngày 08/7/2015 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP A về việc thay đổi chi chánh quản lý đối với Phòng giao dịch M thuộc Ngân hàng TMCP A - Chi nhánh H, theo đó Phòng giao dịch M - Ngân hàng TMCP Q nay là Phòng giao dịch Đ - Ngân hàng TMCP A chi nhánh TQ (gọi tắt là Ngân hàng).

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ngày 27/9/2013, bà Th và ông K đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 30.000.000 đồng và đã trả tiền lãi từ ngày 29/3/2013 đến hết ngày 28/02/2014. Bà Th và ông K vi phạm nghĩa vụ trả lãi từ ngày 01/3/2014. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc trả nợ và đã tạo điều kiện cho bà Th, ông K trả nợ nhưng bà Th và ông K không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Th và ông K trả các khoản nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD tính đến ngày 18/3/2018 tổng số tiền là 437.770.403 đồng. Trong đó nợ gốc là 270.000.000 đồng, lãi trong hạn là 142.158.320 đồng, lãi quá hạn là 25.612.083 đồng. Buộc bà Th và ông K phải tiếp tục trả các khoản lãi kể từ sau ngày 18/3/2018 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD ngày 29/03/2013. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Th và ông K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên để thu hồi nợ. Trong trường hợp số tiền phát mại tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Th và ông K phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Tại biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải, bị đơn trình bày về việc ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quá trình thực hiện hợp đồng như nguyên đơn trình bày. Bà Th và ông K thừa nhận còn nợ Ngân hàng các khoản nợ gốc và lãi như Ngân hàng yêu cầu nêu trên. Do điều kiện khó khăn, làm ăn thua lỗ, bà Th và ông K không thể thanh toán ngay toàn bộ nợ gốc và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng được. Bà Th và ông K đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện giãn nợ gốc, giảm nợ lãi và đề nghị được thanh toán dần mỗi tháng từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng tiền gốc cho đến khi thanh toán xong toàn bộ món vay. Nếu bị đơn không thực hiện được cam kết thì bị đơn đồng ý cho phát mại tài sản bảo đảm để trả nợ.

Tại phiên tòa:

Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã nêu trên và xác định tổng số tiền yêu cầu bị đơn trả theo hợp đồng tín dụng đã ký tính đến hết ngày xét xử (16/5/2018) là 445.025.820 đồng. Trong đó, nợ gốc là 270.000.000 đồng, tổng nợ lãi là 175.025.820 đồng (gồm lãi trong hạn là 147.025.820 đồng, lãi quá hạn là 28.000.000 đồng). Ngân hàng tự nguyện chịu số tiền 800.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 299, 317, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A. Buộc bà Th và ông K phải trả nợ tiền vay cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD ngày 29/3/2013 tổng số tiền 445.025.820 đồng (trong đó nợ gốc là 270.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử (16/5/2018) gồm lãi trong hạn là 147.025.820 đồng, lãi quá hạn là 28.000.000 đồng).

Buộc bà Th và ông K phải tiếp tục chịu khoản lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD ngày 29/3/2013 kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm đối với khoản nợ gốc cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Đối với số tiền lãi suất 175.025.820 đồng, sau khi án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng có yêu cầu thi hành án mà bà Th và ông K không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất chậm trả tiền tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất được thực hiện theo Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về biện pháp bảo đảm: Sau khi án có hiệu lực pháp luật nếu bà Th và ông K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán các khoản nợ thì bà Th và ông K có nghĩa vụ trả nợ tiếp cho Ngân hàng đến khi trả xong khoản nợ.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Theo Quyết định số 589/QĐ-NHNN ngày 25/4/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sáp nhập Ngân hàng TMCP Q vào Ngân hàng TMCP A, Ngân hàng TMCP A kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP Q sau sáp nhập. Vì vậy, Ngân hàng TMCP A có quyền khởi kiện các khách hàng vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch với Ngân hàng TMCP Q. Ngân hàng TMCP A khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K có nơi cư trú tại huyện K, tỉnh Hải Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Th và ông K là bị đơn không có yêu cầu phản tố đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu khởi kiện đòi trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD ngày 29/3/2013, Giấy nhận nợ số T.A.004.13/GNN ngày 29/3/2013 giữa Ngân hàng TMCP Q, nay là Ngân hàng TMCP A và vợ chồng bà Th, ông K được ký kết trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên, đảm bảo điều kiện về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên là hợp đồng hợp pháp. Ngày 29/3/2013, bà Th và ông K nhận vay số tiền gốc là 300.000.000đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Th và ông K đã trả được 30.000.000 tiền gốc theo thỏa thuận và đã trả lãi theo hợp đồng tín dụng đến hết ngày 28/02/2014 là 40.213.500 đồng, từ đó không trả được nợ lãi và đến hạn ngày 29/3/2014 không trả được nợ gốc là vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại điểm 5.3 và 5.4 Điều 5 Hợp đồng tín dụng đã ký. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Th và ông K trả 270.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi trong hạn + Lãi quá hạn tính từ ngày 01/3/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng = 175.025.820 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015.

. Về yêu cầu thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh trên nợ gốc từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ: Theo Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16/5/2013 và được công bố theo Quyết định số 689/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay, gồm: lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay mà đến thời điểm xét xử sơ thẩm khách hàng vay chưa thanh toán, hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng. Trường hợp này, khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi nợ quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay”. Tòa án xét thấy tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ. Vì vậy, theo quy định của Án lệ số 08/2016/AL, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Th và ông K còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Lãi suất mà bà Th và ông K phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng.

. Đối với số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 175.025.820 đồng. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Th và ông K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì phải trả lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

. Về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0040.13/HĐTC ngày 29/3/2013 giữa Ngân hàng TMCP Q (nay là Ngân hàng TMCP A) và vợ chồng bà Th, ông K được lập thành văn bản, có công chứng của Văn phòng công chứng P, có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên là hợp đồng hợp pháp. Do bà Th và ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ theo Điều 7 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0040.13/HĐTC ngày 29/3/2013 và quy định tại các Điều 299, 317, 320, 323 Bộ luật Dân sự 2015.

Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện nộp cả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 299, 317, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015; Án lệ số 08/2016/AL được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16/5/2013 và được công bố theo Quyết định số 689/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A.

[1]. Về nghĩa vụ trả tiền: Buộc bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K phải trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền 445.025.820 đồng, bao gồm số tiền gốc 270.000.000 đồng và 175.025.820 đồng tiền lãi phát sinh đến ngày tuyên án sơ thẩm (16/5/2018) theo Hợp đồng tín dụng số T.A.0040.13/HĐTD ngày 29/3/2003 và Giấy nhận nợ số T.A.004.13/GNN ngày 29/3/2013 giữa Ngân hàng TMCP Q (nay là Ngân hàng TMCP A) và vợ chồng bà Nguyễn Thị Th, ông Trần Văn K.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triền Việt Nam khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Lãi suất mà bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K phải tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP A sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP A.

Đối với số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 175.025.820 đồng, sau khi án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K không trả hoặc không trả đầy đủ thì phải trả lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả xác định theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

[2]. Về xử lý tài sản bảo đảm: Sau khi án có hiệu lực pháp luật, trường hợp bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP A có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự hoặc cơ quan khác có thẩm quyền thực hiện các thủ tục để phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 166 tờ bản đồ số 03, diện tích 175m2 tại thị trấn M, huyện K, tỉnh Hải Dương và tài sản gắn liền với đất là nhà ở 02 tầng, bê tông cốt thép, tường gạch chỉ diện tích 180 m2 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K, do UBND huyện K cấp ngày 03/4/2009, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01867 để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0040.13/HĐTC ngày 29/3/2013 để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, thì bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký kết cho Ngân hàng TMCP A.

[3] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Th và ông Trần Văn K phải chịu 21.801.033 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP A số tiền 10.500.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AB/2016/0001372 ngày 08/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Hải Dương.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi thành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 và điểm 4, điểm 5 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Cỡ chữ