- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Văn Đ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị K"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 và pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 12/10/2009 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2018/DS-PT Ngày: 24/12/2018 V/v: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tính.
Ông Nguyễn Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn h c - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 và ngày 24 tháng 12 năm 2018, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử ph c thẩm công khai v án dân s th lý số: 88/2018/TLPT-DS ngày 03-10-2018 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất”.
Do bản án dân s số: 15/2018/DSST ngày 19-7-2018 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử ph c thẩm số: 93/2018/QĐ T-DS ngày 25 tháng 10 năm 2018 giữa các đương s :
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 (có mặt).
Địa chỉ: Số 09 Trần h , phường ĐN, thị xã T, tỉnh BN.
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/4/ 1956 (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1957 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố N, phường ĐN, thị xã T, tỉnh BN.
- Ngư i b o v quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguy n Thị K: Ông Nguyễn Văn T - Lu t sư Công ty Lu t TNHH FANCI chi nhánh H, Đoàn Lu t sư tỉnh B (Có mặt)
- Những ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Th, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 09 Trần h , phường ĐN, thị xã T, tỉnh BN.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Th: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 (có mặt).
2. Anh Nguyễn Hào H, sinh năm 1982 (vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1989 (có mặt).
4. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường ĐN, thị xã T, tỉnh BN.
5. Chị Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm 1985 (có mặt).
Địa chỉ: Ng 63, Thái T, phường Th, qu n Đ, thành phố H.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kê, anh Nguyễn Hào H, anh Nguyễn Mạnh H1, chị Nguyễn Thị Thu H3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung v án như sau:
Nguyên đơn ông Nguy n Văn Đ trình bày: Ngày 08/02/2012, ông có nh n chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K (tr tại phố N, Đ, T) 1333 m2 đất ruộng Đồng N thuộc phố N, phường ĐN, thị xã T với giá tiền là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) ông đã giao đủ số tiền trên cho ông T, bà K và được ông T, bà K giao cho ông giấy chứng nh n quyền sử d ng diện tích thửa đất trên.
Ngày 10/04/2012, ông tiếp t c nh n chuyển nhượng của ông T, bà K thửa đất có diện tích được cấp theo giấy chứng nh n quyền sử d ng đất là 66 m2, tổng diện tích sử d ng th c là 150m2 với giá là 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng chẵn), trên thửa đất có ngôi nhà 05 tầng; thửa đất n m giáp đường 295B có mặt tiền rộng 6m theo giấy chứng nh n quyền sử d ng đất số AĐ 913097 do Uỷ ban nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cấp. Ông đã trả ông T bà K đủ số tiền 1.500.000.000 đồng và ông T, bà K đã giao cho ông giấy chứng nh n quyền sử d ng thửa đất trên.
Việc chuyển nhượng đất ruộng canh tác, đất , nhà trên đất giữa ông T, bà K với ông các bên có làm giấy mua bán viết tay, giấy mua bán này do chính ông T viết ra và cả hai vợ chồng ông T, bà K đều ký xác nh n và có hẹn 06 tháng sau sẽ giao nhà và đất. Mặc dù ông đã yêu cầu nhiều lần, nhưng cho tới nay đã được hơn 06 năm mà ông T, bà K không trả nhà, đất và hoàn tất các t c giấy tờ có liên quan cho ông.
Vì v y ông đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất và tài sản trên đất, đất ruộng và buộc ông T, bà K phải trả cho ông số tiền 1.850.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng) và yêu cầu giải quyết h u quả pháp lý của giao dịch dân s vô hiệu.
Bị đơn là ông T, bà K đã được Tòa án giao thông báo th lý. Sau khi nh n được thông báo th lý v án của Tòa án. Ông T bà K đã không có văn bản nêu ý kiến mà xin được sao ch p hồ sơ. Tòa án đã tiến hành cho ông T sao ch p hồ sơ theo quy định của pháp lu t.
Ngày 18/12/2014 ông T có đơn khiếu nại về việc th lý v án của Tòa án, Tòa án thị xã T đã có công văn trả lời khiếu nại của ông T. Sau khi nh n được trả lời khiếu nại của Tòa án thị xã T về việc th lý v án ông T, bà K không có văn bản nêu ý kiến của mình. Tòa án đã tiến hành triệu t p ông T, bà K nhiều lần để lấy lời khai và hòa giải nhưng ông T và bà K vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành giao thông báo về việc m phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp c n công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử v án đối với ông T, bà K theo quy định của pháp lu t nhưng ông T, bà K không có mặt theo giấy triệu t p của Tòa án.
Ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Th trình bày: Bà là vợ của ông Đ. Số tiền ông Đ bỏ ra mua ruộng và nhà đất của ông T, bà K tại đường 295B là tiền chung của ông bà. Nay bà đồng ý với yêu cầu kh i kiện của ông Đ. Đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông T, bà K trả cho vợ chồng bà số tiền đã mua đất , nhà và đất ruộng tổng cộng là 1.850.000.000 đồng (một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng) và yêu cầu giải quyết h u quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân s vô hiệu.
Ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguy n Mạnh H1 và anh Nguy n Hào H trình bày: Hai anh là con trai của ông T và bà K. Việc ông T, bà K chuyển nhượng đất và đất ruộng cho ông Đ như thế nào các anh không r . Các anh xác định không liên quan gì đến việc chuyển nhượng đất ruộng và đất giữa bố mẹ các anh với ông Đ nên các anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu kh i kiện của ông Đ. Quá trình giải quyết v án Tòa án cũng đã triệu t p anh H1, anh H để tiến hành các thủ t c tố t ng nhưng anh H1, anh H không có mặt theo giấy triệu t p của Tòa án.
Tòa án đã tiến hành triệu t p chị H2 và chị H3 nhưng chị H2 và chị H3 không đến Tòa án làm việc. Xác minh tại địa phương thì địa phương không biết chị H2 và chị H3 hiện nay đang đâu. Bản thân anh H1 tại phiên tòa sơ thẩm ngày 24/8/2017, khi được hỏi về chỗ của chị H2 và chị H3 anh H1 cũng không cho Tòa án biết địa chỉ. Tòa án đã làm thủ t c niêm yết các văn bản tố t ng đối với chị H2 và chị H3 tại nơi cư tr cuối cùng của hai chị là phường ĐN, thị xã T, tỉnh BN.
Ngày 12/11/2015 xem xét thẩm định tài sản bao gồm: Thửa đất mà ông T bà K đang sử d ng tại tr c đường 295b địa chỉ khu phố N, phường ĐN, thị xã T, tỉnh BN có tổng diện tích là 176,4m2, trong đó diện tích được cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng thửa đất số 270 nay là thửa đất số 201 có diện tích 67,5m2; diện tích đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất, nay là thửa đất số 109 diện tích 108,9m2; và ngôi nhà 05 tâng n m trên cả phần đất đã được cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất và phần đất chưa được cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất.
Ngày 10/12/2015 và ngày 06/9/2016, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành, định giá tài sản tranh chấp c thể là:
Thửa đất số 201 diện tích 67,5m2 có giá là 648.000.000 đồng.
Thửa đất số 109 diện tích 108,9m2 có giá là 1.728.000.000 đồng.
iá trị 1.333 m2 ruộng canh tác là 584.492.000 đồng
iá trị toàn bộ diện tích 610,8m2 của ngôi nhà 05 tầng xây trên hai thửa đất 201 và 109 là 1.287.810.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản tại thời điểm định giá là: 4.212.302.000 đồng.
Từ những căn cứ trên Tòa án nhân dân thị xã T đã căn cứ vào các Điều 147, 238 Bộ lu t tố t ng dân s ; Điều 122, Điều 128; Điều 134; Điều 137; Điều 697; Điều 699; Điều 700; Điều 701; Điều 702 Bộ lu t dân s năm 2005; Điều 468 Bộ lu t dân s năm 2015; khoản 1 Điều 106; điểm b, khoản 1 Điều 127; khoản 1 Điều 146 Lu t đất đai năm 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội.
Tuyên bố giao dịch dân s về việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất gắn liền với tài sản trên đất ký ngày 10/04/2012 và việc chuyển nhượng ruộng canh tác ký ngày 08/02/2012 giữa ông Nguyễn Văn Đ với vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K là vô hiệu.
Buộc Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K phải trả cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Trần Thị Th số tiền 3.031.151.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K được nh n lại một giấy chứng nh n quyền sử d ng đất số AĐ 913097 mang tên bà Nguyễn Thị K và một iấy chứng nh n quyền s d ng đất nông nghiệp số *I 138466 mang tên ông Nguyễn Văn T.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố t ng, nghĩa v thi hành án và quyền kháng cáo của các đương s .
Ngày 13/8/2018 anh Nguyễn Mạnh H1 kháng cáo một phần bản án về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất vô hiệu; Ngày 14/8/2018, bà Nguyễn Thị K kháng cáo toàn bộ bản án; Ngày 23/8/2018 anh Nguyễn Hào H kháng cáo một phần bản án về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất vô hiệu; Ngày 23/8/2018 chị Nguyễn Thị Thu H3 kháng cáo một phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất vô hiệu.
Tại phiên tòa ph c thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện, phía bị đơn là bà Nguyễn Thị K và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là anh H, anh H1, chị H3 v n giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
hía nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ trình bày kh ng định giữa ông và vợ chồng ông T, bà K có giao kết chuyển nhượng quyền sử d ng đất gắn liền với tài sản vào ngày 10/4/2012 và giao kết chuyển nhượng đất ruộng canh tác vào ngày 08/02/2012. Tại phiên tòa ph c thẩm, ông có quan điểm nếu ông T, bà K đồng ý thanh toán trả ngay tại phiên tòa cho vợ chồng ông với số tiền 1.300.000.000 đồng thì ông chấp nh n hòa giải, còn không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp lu t.
Về phía bà K trình bày: Bà xác nh n vào ngày 08/02/2012 vợ chồng bà có giao kết chuyển nhượng đất ruộng canh tác của gia đình cho ông Đ và ngày 10/4/2012 có giao kết chuyển nhượng quyền sử d ng đất gắn liền với tài sản với ông Đ song việc giao kết chuyển nhượng này xuất phát từ việc vợ chồng ông bà có vay tiền của ông Đ nên ông Đ yêu cầu phải có tài sản đảm bảo và phải l p thành hợp đồng chuyển nhượng th c chất ông, bà không chuyển nhượng nhà, đất và ruộng canh tác cho ông Đ. Tại phiên tòa bà K đồng ý với đề nghị của ông Đ. Tuy nhiên, bà chỉ có khả năng trả ngay tại phiên tòa 1.000.000.000 đồng, còn số tiền 300.000.000 đồng bà và ông T sẽ thanh toán trả ông Đ, bà Th trong thời hạn 03 tháng liên tiếp kể từ ngày 24/12/2018. Về phía ông Đ, bà Th sau khi nh n số tiền 1000.000.000 đồng thì phải trả ngay cho bà 01 iấy chứng nh n quyền s d ng đất nông nghiệp số *I 138466 do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 07/6/2006 mang tên ông Nguyễn Văn T, còn lại 01 iấy chứng nh n quyền sử d ng đất số AĐ 913087 do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 26/01/2006 mang tên bà Nguyễn Thị K thì ông Đ, bà Th có nghĩa v hoàn trả bà khi ông, bà thanh toán trả đủ số tiền 300.000.000 đồng còn lại cho ông Đ, bà Th.
Về phía ông Đ và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là anh H1, chị H3 đều nhất trí với ý kiến của bà K.
Lu t sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà K đề nghị Hội đồng xét xử công nh n s thỏa thu n của các đương s tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp lu t của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp lu t của các đương s từ khi th lý v án đến khi nghị án là đ ng với quy định của pháp lu t tố t ng dân s .
Về đường lối giải quyết v án, tại phiên tòa các đương s đã t thỏa thu n được với nhau về việc giải quyết v án, việc thỏa thu n của các đương s là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội. Do v y, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa bản án sơ thẩm, công nh n s thỏa thu n của các đương s .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh t ng tại phiên tòa, nh n thấy:
Về thủ t c tố t ng: Căn cứ vào yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn và tài liệu kèm theo thể hiện ngày 08/02/2012 và ngày 10/4/2012 ông Đ có nh n chuyển nhượng của ông T, bà K một số diện tích đất nông nghiệp và đất , nhà trên đất. Trong quá trình giải quyết v án các bên đều thừa nh n là có th c hiện việc ký kết các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất. Do v y, việc Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã tiến hành th lý giải quyết v án với quan hệ tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất là đ ng với quy định của pháp lu t.
Do phía ông T, bà K, anh H1, chị H2, chị H3 không đến làm việc theo giấy triệu t p của Tòa án nhân dân thị xã T vì v y Tòa án nhân dân thị xã T đã có công văn đề nghị Công an thị xã T cung cấp về nhân khẩu của hộ ông T, bà K. Tại Công văn số 767 ngày 14/9/2017 Công an thị xã T đã cung cấp về nhân khẩu hiện tại của hộ ông T gồm: Ông Nguyễn Văn T (chủ hộ) – sinh ngày 20/4/1956; bà Nguyễn Thị K (vợ) – sinh năm 1957; Nguyễn Thị Thu H3 (con) – sinh ngày 20/02/1985; Nguyễn Mạnh H1 (con), sinh ngày 20/4/1989; Nguyễn Hào H (con); sinh ngày 21/11/1982. Song quá trình giải quyết v án, Hội đồng xét xử sơ thẩm v n xác định ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1957, bà Nguyễn Thị K – sinh năm 1958 và xác định chị Nguyễn Thị H2 ( con gái ông T, bà K) sinh năm 1979 là không chính xác mà theo anh Nguyễn Mạnh H1 con trai ông T, bà K cung cấp tại giai đoạn ph c thẩm thì theo chứng minh thư nhân dân ông T – sinh năm 1956, bà K – sinh năm 1957, chị H2 – sinh năm 1980 điều này cũng hoàn toàn phù hợp với năm sinh của ông T, bà K do Công an thị xã T cung cấp vì v y nay cần xác định năm sinh của ông T, bà K, chị H2 theo như anh H1 cung cấp và công văn số 767 của Công an thị xã T.
Về nội dung v án: Ngày 08/02/2012, giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K có l p hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ 1333m2 đất ruộng (gồm các thửa số 422(12) 113m2, thửa số 16(2) diện tích 553m2, thửa số 131(1) diện tích 667m2) tại Đồng N, thôn N, ĐN, thị xã T với giá 350.000.000 đồng, ông T, bà K đã nh n đủ số tiền và giao giấy chứng nh n quyền sử d ng đất ruộng cho ông Đ. Ngoài hợp đồng trên thì vào ngày 10/4/2012, giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K tiếp t c chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ 66m2 (diện tích sử d ng th c tế là khoảng 150m2) đất n m giáp tr c đường 295b tại ĐN, thị xã T, tỉnh BN và 01 ngôi nhà 05 tầng trên đất với giá 1.500.000.000 đồng. Ông T, bà K đã nh n đủ số tiền trên đồng thời giao cho ông Đ giấy chứng nh n quyền sử d ng đất nêu trên và hẹn 06 tháng sau bàn giao đất và nhà.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất xác l p ngày 10/04/2012 thì ông T, bà K đã chuyển nhượng cả phần đất đã được cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất và phần đất chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất. Bên cạnh đó, ngôi nhà 05 tầng cũng được xây d ng trên cả phần diện tích đất được cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất và phần đất chưa được cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất. Theo qui định tại khoản 1 Điều 106 Lu t đất đai năm 2003 ông T, bà K không được xác l p hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất và nhà trên đất cho ông Đ. Việc bản án sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất và nhà trên đất l p ngày 10/4/2012 bị vô hiệu là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp lu t.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng đất ruộng ký ngày 08/02/2012 chỉ có việc tham gia ký kết của ông T, bà K trong khi quyền sử d ng diện tích ruộng 1333m2 là tài sản chung của các thành viên trong hộ gia đình ông T. Việc ông T, bà K t định đoạt toàn bộ diện tích đất ruộng mà không hỏi ý kiến của các thành viên còn lại trong hộ gia đình là anh H1, chị H2, chị H3 và anh H là vi phạm các quy định của pháp lu t. Việc bản án sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất l p ngày 08/02/2012 bị vô hiệu là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp lu t.
Đối với việc giải quyết h u quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu thì: Tại phiên tòa ph c thẩm, phía nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ với phía bị đơn do bà Nguyễn Thị K đại diện và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đã thống nhất thỏa thu n phía ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị K phải có nghĩa v thanh toán trả cho ông Đ, bà Th số tiền 1.300.000.000 đồng, trong đó thanh toán trả ngay 1.000.000.000 đồng, còn lại 300.000.000 đồng ông T, bà K phải thanh toán trả ông Đ, bà Th trong thời hạn 03 tháng liên tiếp kể từ ngày 24/12/2018. Về phía ông Đ, bà Th sau khi nh n số tiền 1.000.000.000 đồng thì phải trả ngay cho bà K 01 iấy chứng nh n quyền s d ng đất nông nghiệp do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 07/6/2006 mang tên ông Nguyễn Văn T; còn lại 01 iấy chứng nh n quyền sử d ng đất do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 26/01/2006 mang tên bà Nguyễn Thị K thì ông Đ, bà Th có nghĩa v hoàn trả ông T, bà K khi ông T, bà K thanh toán trả đủ số tiền 300.000.000 đồng cho ông Đ, bà Th.
Hội đồng xét xử xét thấy, thỏa thu n của các đương s tại phiên tòa là hoàn toàn t nguyện, không vi phạm điều cấm của lu t, không trái đạo đức xã hội cần được chấp nh n. Do v y, cần phải sửa bản án sơ thẩm và công nh n s thỏa thu n của các đương s .
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội ông T, bà K là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí. Do v y, ông T, bà K không phải chịu án phí sơ thẩm.
Về án phí ph c thẩm: Việc sửa bản án sơ thẩm là theo s t nguyện thỏa thu n của các đương s nên anh H, anh H1, chị H3 v n phải chịu án phí dân s ph c thẩm theo quy định của pháp lu t. Ông T và bà K không phải chịu án phí ph c thẩm do được miễn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 238, 300, khoản 2 Điều 308 Bộ lu t Tố t ng Dân s ;
Điều 122, Điều 128, Điều 134, Điều 137, Điều 697, Điều 699, Điều 700, Điều 701, Điều 702 Bộ lu t Dân s năm 2005; Điều 468 Bộ lu t Dân s năm 2015; khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 Lu t Đất đai năm 2003;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 và pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 12/10/2009 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Sửa bản án sơ thẩm.
1. Tuyên bố giao dịch dân s về việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất gắn liền với tài sản ký ngày 10/4/2012 và việc chuyển nhượng đất ruộng canh tác ký ngày 08/02/2012 giữa ông Nguyễn Văn Đ với vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K là vô hiệu.
2. Công nh n s thỏa thu n của các đương s : Buộc Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K phải trả cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Trần Thị Th số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng). Xác nh n ông T, bà K đã trả ông Đ, bà Th số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) vào ngày 24/12/2018. Số tiền còn lại là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K phải tiếp t c thanh toán trả cho ông Đ, bà Th trong thời hạn 03 tháng liên tiếp kể từ ngày tuyên án ph c thẩm (24/12/2018).
Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K được nh n lại iấy chứng nh n quyền sử d ng đất số AĐ 913087 do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 26/01/2006 mang tên bà Nguyễn Thị K và iấy chứng nh n quyền s d ng đất nông nghiệp số *I 138466 do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 07/6/2006 mang tên ông Nguyễn Văn T sau khi đã thanh toán trả đủ số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng). Xác nh n Ông Đ, bà Th đã trả cho bà K 01 iấy chứng nh n quyền s d ng đất nông nghiệp số *I 138466 do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 07/6/2006 mang tên ông Nguyễn Văn T. Còn lại 01 iấy chứng nh n quyền sử d ng đất số AĐ 913087 do Uỷ ban nhân dân thị xã T cấp ngày 26/01/2006 mang tên bà Nguyễn Thị K thì ông Đ, bà Th có nghĩa v hoàn trả ông T, bà K khi ông T, bà K thanh toán trả đủ số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) cho ông Đ, bà Th.
3. Về án phí dân s sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân s sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị K.
Ông Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí dân s sơ thẩm và án phí ph c thẩm. Hoàn trả ông Đ số tiền 200.000 đồng đã nộp tại Chi c c Thi hành án thị xã T theo biên lai số 02268 ngày 05/11/2014.
4. Về án phí dân s ph c thẩm: Bà Nguyễn Thị K không phải chịu án phí ph c thẩm. Hoàn trả bà K số tiền tạm ứng án phí ph c thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2013/03403 ngày 14/8/2018 của Chi c c Thi hành án dân s thị xã T.
Anh Nguyễn Hào H, anh Nguyễn Mạnh H1, chị Nguyễn Thị Thu H3 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân s ph c thẩm. Xác nh n anh H, anh H1, chị H3 mỗi người đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu lần lượt AA/2013/03455 ngày 21/8/2018; AA/2013/03347 ngày 13/8/2018; AA/2013/03454 ngày 29/8/2018 cùng tại Chi c c Thi hành án dân s thị xã T.
Kể từ khi bản án có hiệu l c pháp lu t, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án nếu người phải thi hành án không t nguyện thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu t dân s tương ứng với số tiền và thời gian ch m thi hành án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân s thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thu n thi hành, quyền thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân s .
Bản án ph c thẩm có hiệu l c pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương s ; - VKSND tỉnh BN; - TAND thị xã T; - Chi c c THADS thị xã T; - Lưu hồ sơ. CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Anh Văn - Nguyễn Văn Tính | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- chủ toạ phiên toà Hoàng Tuán Anh (đ Hoàng Tuấn Anh THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Xuân Ninh |