- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG TỈNH B PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03 /2017/HS-ST Ngày: 20/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Mai Danh Hòa
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Khuyến
Ông Hồ Viết Trung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Cán bộ tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2017, tại Hội trường Thôn Phú Thành, huyện Phú Riềng, tỉnh B Phước xét xử Sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2017/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn H - SN: 1963, tại: Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh B Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/10; Họ tên cha: Nguyễn N (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T (Đã chết). Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh B Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 29/6/2017, Đoàn Văn T; Sinh năm: 1993; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú (NKTT): Thôn P, xã P, huyện P và Lê Công B; Sinh năm: 1993; NKTT: Thôn T, xã B, huyện P bàn bạc cùng nhau góp tiền nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng. T biết Nguyễn H; Sinh năm: 1963; NKTT: Thôn P , xã P, huyện P có bán ma túy (cần sa) vì T đã mua ma túy (cần sa) của H nhiều lần nên T và B cùng nhau vào nhà H để mua ma túy (cần sa) về sử dụng (Bút lục số 50-51, 59-60). Khi đến nhà H thì T nói H bán cho T 100.000 đồng ma túy, thì được H đồng ý, H lấy 01 (một) cái hộp (loại hộp đựng bánh) để dưới tủ đựng tivi trong phòng khách và đi vào trong phòng ngủ. Một lúc sau, H đi ra và đưa cho T 01 bọc giấy báo, bên trong có ma túy (cần sa), T cầm ma túy và đưa cho H 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng). Lúc này lực lượng Công an vào bắt quả tang về việc mua bán ma túy, đồng thời thu giữ niêm phong vật chứng là số ma túy trên (Bút lục số 46-47, 59-60, 67-68).
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 142/LKXKC để khám xét nơi ở của H, quá trình khám xét thu giữ 01 (một) gói giấy báo quấn tròn, bên trong gói giấy báo có chứa 07 cành lá, quả thảo mộc mà H khai là cần sa để sử dụng và bán (Bút lục số 01-02).
Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 (hai) gói niêm phong số 315 M1 và 315 M2 ngày 30/6/2017 được đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước;
- 01 (một) hộp kim loại màu đỏ - vàng, kích thước (30x12x15)cm, có logo Văn Mỹ Ngọc;
- Số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 315/2017/GĐ ngày 04/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: (Bút lục số 74)
M1: Thảo mộc khô (lá, quả) đựng trong 01 (một) gói giấy được niêm phong gửi giám định có trọng lượng là: 2,4511 gam, là lá, quả cây cần sa.
M2: Thảo mộc khô đựng trong 01 (một) gói giấy được niêm phong gửi giám định có trọng lượng là 12,1203 gam. Sau khi tách cành có trọng lượng là 1,5280 gam ra khỏi mẫu; lượng lá, quả còn lại được giám định có kết quả là lá, quả cây cần sa, trọng lượng là 10,5923 gam.
Cần sa và các chế phẩm từ cần sa là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 8, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 07 năm 2013 của Chính Phủ.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (cần sa) trọng lượng 10,5923 gam của H do không đủ định lượng nên ngày 26/9/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn H theo điểm a, khoản 2, Điều 21 Nghị định 167/NĐ-CP/2013.
Đối với đối tượng Đoàn Văn T và Lê Công B qua điều tra xác định ngày 29/6/2017 T và B có đến nhà H để mua ma túy (cần sa), tuy nhiên số ma túy (cần sa) không đủ định lượng để xử lý đối với T và B nên không đề cập xử lý.
Tại Bản cáo trạng số: 63/CT - VKS - HS ngày 23/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh B Phước truy tố: Bị cáo Nguyễn H về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS;
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng: Khoản 01 Điều 194, điểm p, khoản 1; khoản 2 Điều 46; các Điều 33; 45 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra đại diện VKS nhân dân huyện Phú Riềng còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và T liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử thảo luận và nghị án.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do cần tiền tiêu xài nên ngày 29/6/2016 bị cáo đã bán cho Đoàn Văn T và Lê Công B 100.000 đồng ma túy (Cần sa) đựng trong 01 bọc giấy báo, bên trong có ma túy (cần sa) tại nhà của bị cáo thuộc Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. T cầm ma túy và đưa cho bị cáo 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng). Lúc này lực lượng Công an huyện Phú Riềng vào bắt quả tang về việc mua bán ma túy, đồng thời thu giữ niêm phong vật chứng là số ma túy trên.
Xét lời khai của bị cáo là phù hợp về thời gian, địa điểm, phương thức phạm tội của bị cáo. Đồng thời, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra các chứng khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mua bán ma túy của bị cáo Nguyễn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trai phép chất ma túy” được quy định tại điều 194 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người, là nguyên nhân trực tiếp gây ra nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật xử lý và nghiêm trị. Nhưng do muốn có tiền tiêu sài bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Điều này thể hiện thái độ liều lĩnh, xem thường pháp luật của bị cáo rất cao.
Xét tính chất hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các bệnh tật và tệ nạn xã hội. Trọng lượng ma túy là lá, quả cây cần xa bị cáo bán có trọng lượng là 2,4511gam. Nên Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Riềng truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, phù hợp pháp luật. Do vậy, cần phải xử bị cáo mức án thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, có tham gia cách mạng đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự nên cần xem xét khi lượng hình.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (cần sa) trọng lượng 10,5923 gam của H do không đủ định lượng nên ngày 26/9/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn H theo điểm a, khoản 2, Điều 21 Nghị định 167/NĐ-CP/2013.
Đối với đối tượng Đoàn Văn T và Lê Công B qua điều tra xác định ngày 29/6/2017 T và B có đến nhà H để mua ma túy (cần sa), tuy nhiên số ma túy (cần sa) không đủ định lượng để xử lý đối với T và B nên không đề cập xử lý.
Veà vật chứng vụ án:
Cần áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 41 Bộ luật hình sự để xử lý:
Đối với 02 (hai) bì thư hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước số 315/2017/GĐ gói M1 và M2 ngày 30/6/2017 đã được niêm phong là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) hộp kim loại màu đỏ - vàng, kích thước (30x12x15)cm, có logo Văn Mỹ N, qua quá trình điều tra xác định đây là hộp kim loại H sử dụng để cất giấu ma túy (cần sa) nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) thu giữ khi bắt quả tang, qua điều tra xác định đây là số tiền do T trả cho H để mua ma túy nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và mức hình phạt là có căn cứ neân ñöôïc Hoäi ñoàng xeùt xöû chaáp nhaän.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Khoản 01 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 33, 45 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 29/6/2017.
2. Về vật chứng; Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng).
Tịch thu tiêu hủy số 02 (hai) bì thư hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Phước số 315/2017/GĐ gói M1 và M2 ngày 30/6/2017 đã được niêm phong ma túy được hoàn lại sau giám định của phòng KTHS Công an tỉnh B Phước, trọng lượng 19,0367g (M1); 2,1943g (M2), và 01 (một) hộp kim loại màu đỏ - vàng, kích thước (30x12x15)cm, có logo Văn Mỹ Ngọc.
3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh B Phước; - VKSND huyện Phú Riềng; - Chi cục THADS huyện Phú Riềng; - CA huyện huyện Phú Riềng; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa MAI DANH HÒA |