- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị N, Bùi Văn N"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2017/HNGĐ-ST Ngày 14/9/2017. V/v: Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K – TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Bùi Văn Phương – Phó giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện K
+ Ông Bùi Văn Thức
- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Ánh Tuyết
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Lương – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 9 năm 2017; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K – tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 98/2017/TLST - HNGĐ ngày 30/6/2017 về việc tranh chấp yêu cầu xin ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05 /2017/QĐXX-ST ngày 01/8/2017 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1985;Trú tại: Xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình;Có mặt
2/ Bị đơn: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1991; Trú tại: xóm V , xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình;Vắng mặt lần II không lý do
PHẦN NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 27 tháng 6 năm 2017 nguyên đơn là Chị Bùi Thị Ntrình bày: giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Bùi Văn Ntự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 13 tháng 11 năm 2012. Trong quá trình chung sống, thời kỳ đầu vợ chồng chung sống hòa thuận có 01 con chung. Sau đó thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Anh chị đã ly thân từ đầu năm 2017 hai bên không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay anh N đi làm thuê ở Hà Nội, hàng tháng có về nhà thăm bố mẹ rồi lại bỏ đi, không cho ai biết địa chỉ. Do tình trạng hôn nhân mâu thuẫn ngày một trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết, nên chị Nh có yêu cầu Tòa án nhân dân huyện K giải quyết:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Bùi Thị Ncó yêu cầu Tòa án nhân dân huyện K giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn N
Về con chung: Anh chị có một con chung là Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2012. Sau ly hôn Chị Nh có yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Yêu cầu anh Bùi Văn Ncấp dưỡng nuôi con với chị Nh 1.000.000 đồng/1 tháng kể từ tháng 10 năm 2017 cho đến khi con đủ 18 tuổi
Về tài sản chung, công sức đóng góp, công nợ tài sản: Chị Bùi Thị Nkhông yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án số 98 ngày 20/6/2017.Giấy triệu tập số 68 ngày 03/7/2017. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 98 ngày 14/7/2017. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05 ngày 01/8/2017. Quyết định hoãn phiên tòa số 02ngày 28/8/2017. Giấy triệu tập phiên tòa lần II ngày 28/8/2017 đối với bị đơn Bùi Văn N, Tòa án nhân dân huyện K đều tiến hành lập Biên bản không tống đạt được, Biên bản niêm yết tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã và tại nơi cư trú của bị đơn, Biên bản niêm yết tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K. Bị đơn Bùi Văn N hàng tháng có về địa phương, biết việc Tòa án nhân dân huyện K niêm yết các thủ tục, giấy tờ nhưng không chấp hành, không đến Tòa án để làm việc, tự tước bỏ quyền và lợi ích của mình.
Tại phiên tòa ngày hôm nay Nguyên đơn, Kiểm sát viên không đề nghị hoãn phiên tòa. Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn
PHẦN NHẬN ĐỊNH VỤ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quá tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
1/ Về tình cảm: Chị Bùi Thị Nvà anh Bùi Văn Ntự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã C vào ngày 13/11/2012. Như vậy chị Nh và anh N đã phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình, là vợ chồng hợp pháp theo Luật hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình chung sống, thời kỳ đầu vợ chồng chung sống hòa thuận có 01 con chung. Sau đó thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Anh chị đã ly thân từ đầu năm 2017 hai bên không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay anh N đi làm thuê ở Hà Nội, hàng tháng có về nhà thăm gia đình rồi lại bỏ đi, không cho chị Nh biết địa chỉ.
Từ các căn cứ nêu trên nên cho thấy anh N đã cố tình dấu diếm địa chỉ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Nvới anh Bùi Văn N. Xử chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Bùi Văn Ntheo quy định tại Điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
2/ Về con chung: Anh Bùi Văn Nvà chị Bùi Thị Ncó 1 con chung: Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2012. Sau ly hôn chị Bùi Thị Ncó yêu cầu nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc con. Yêu cầu anh Bùi Văn Ncấp dưỡng nuôi con với chị Nh 1.000.000 đồng/1 tháng kể từ tháng 10 năm 2017 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nh có công việc làm ổn định, có thu nhập, có nhà ở, có đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, nên chấp thuận yêu cầu của chị Nh. Hội đồng xét xử giao cháu Bùi Thị Ngọc H cho chị Bùi Thị Ntrực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Anh Bùi Văn Ncó quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở.
3/ Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Bùi Thị Nkhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Bị đơn anh Bùi Văn Nkhông có yêu cầu gì nên Tòa không xét
4/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị Nphải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sang thành án phí cho chị Nh, theo biên lai thu số:0001002 chị Nh nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K ngày 28/6/2017. Anh Bùi Văn Nphải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Vì các lẽ trên;
PHẦN QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu xin ly hôn giữa chị Bùi Thị Nvà anh Bùi Văn N
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho Chị Bùi Thị Nđược ly hôn với anh Bùi Văn N
2/ Về con chung:
Xử: Giao cho chị Bùi Thị Nchăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là: Cháu Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2012. Anh Bùi Văn Ncấp dưỡng nuôi con với chị Nh 1.000.000 đồng/1 tháng kể từ tháng 10 năm 2017 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Bùi Văn Nđược quyền đi lại thăm nuôi con chung.
3/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị Nphải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sang thành án phí cho chị Nh, theo biên lai thu số:0001002 chị Nh nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K ngày 28/6/2017. Anh Bùi Văn Nphải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án và niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm!
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Hòa Bình; - VKS ND Huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Lưu HS + VT. |