vanban.org

Bản án 02 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị K.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị K được ly hôn với anh Phan Vũ L. Về con chung: Giao con chung tên Phan Gia B, sinh ngày 10/4/2021 cho chị Đoàn Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phan Vũ L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Đoàn Thị K chưa có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị K - Phan Vũ L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 01 - 2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Kim Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hoàn.

Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

Trong ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 465/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị K, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp E, xã Thạnh Lộc, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Phan Vũ L, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp E, xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

(Chị K có đơn xin vắng mặt; anh L vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 14/8/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đoàn Thị K trình bày:

Chị và anh Phan Vũ L cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 18/3/2021. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến đầu năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, anh L không lo làm ăn mà thường xuyên ăn chơi, cờ bạc, về nhà kiếm chuyện gây sự chửi mắng, đánh đập chị. Vợ chồng chị đã ly thân nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nay, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phan Vũ L.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Gia B, sinh ngày 10/4/2021. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Phan Vũ L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh L vẫn không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Vũ L đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và chị Đoàn Thị K có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh L, chị K.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Thị K, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Đoàn Thị K và anh Phan Vũ L có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị K và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị K yêu cầu được ly hôn với anh L là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị K được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị K và anh L có 01 chung tên Phan Gia B, sinh ngày 10/4/2021. Hiện cháu B đang sống cùng với chị K. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị K, giao cháu B cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Về cấp dưỡng: Chị K chưa yêu cầu anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị K xác định chị và anh L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đoàn Thị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị K được ly hôn với anh Phan Vũ L.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phan Gia B, sinh ngày 10/4/2021 cho chị Đoàn Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phan Vũ L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Đoàn Thị K chưa có yêu cầu.

Anh Phan Vũ L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Nếu anh L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị K có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh L.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí:

Chị Đoàn Thị K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016868 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, chị K đã thi hành xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ