- Tranh chấp gì? "bị cáo Lê Thanh Q cùng đồng bọn do có kháng cáo của các bị cáo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thanh Q, Nguyễn Tấn N1, Lê H2, Trần T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T A N NHÂN DÂN
C NG H A
H I CH N H A
T NAM T NH B NH NH
c l p - T do - H nh phúc
[
Bản án số: 02/2019/HSCTN-PT Ngày: 19.6.2019
NHÂN DANH
NƯỚC C N H A
H CH N H A
T NAM
T A N NHÂN DÂN T NH B NH NH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thu
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt - Thư ký TAND tỉnh Bình Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 02/2019/TLPT-HSCTN ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Lê Thanh Q cùng đồng bọn do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện HN.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Thanh Q, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1995 tại Bình Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn PA, xã HH, huyện HN, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L (1969) và bà Huỳnh Thị G (1974); chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/9/2016, bị Công an huyện HN xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi ném ghế vào người khác, đã chấp hành xong ngày 29/9/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2016 đến ngày 12/6/2017; bị bắt tạm giam lần 2 từ ngày 02/7/2018 đến ngày 25/9/2018 cho tại ngoại, có mặt.
2. Nguyễn Tấn N1, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1999 tại Bình Định (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 06 tháng 15 ngày); nơi đăng ký HKTT: Thôn MĐ, xã ĐL, huyện KL, tỉnh KonTum, chỗ ở: Thôn KT, xã HM, huyện HN, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V (1971) và bà Tô Thị Kim L (1972); chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2017 đến ngày 18/7/2017, bị bắt tạm giam lần 2 từ ngày 22/6/2018 đến ngày 11/9/2018, bị cáo đang tại ngoại, có mặt.
3. Huỳnh ăn H, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1995 tại Bình Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn TXĐ, xã HH, huyện HN, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn B (1967) và bà Trần Kim P (1970); chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16/6/2016, bị Công an huyện HN xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi cất giấu, cầm theo khúc cây nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác, bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2017 đến ngày 22/9/2017, bị bắt tạm giam lần 2 từ ngày 25/6/2018 đến ngày 21/9/2018; bị cáo đang tại ngoại, có mặt.
4. Trần T, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2001 tại Bình Định (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi 03 tháng 14 ngày); nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn TXĐ, xã HH, huyện HN, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần X (Chết) và bà Nguyễn Thị Y (1980); chưa có vợ, con;
Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 31/5/2016, bị Công an huyện HN xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ, cất giấu khúc cây nhằm gây rối trật tự công cộng. Nhân thân: Ngày 30/8/2017 bị Công an huyện HN xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/8/2017 đến ngày 22/9/2017. Bị cáo đang tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, còn có 10 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần T: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn TXĐ, xã HH, huyện HN, tỉnh Bình Định, là mẹ của bị cáo, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Thành T, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn N1, có mặt
N DUN Ụ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 Phút ngày 19 tháng 8 năm 2016, Lê Phạm H, Đinh Bá T, Nguyễn Hữu Đ, Trần H2, Đặng Hà V, Võ T5, Huỳnh Đức N2, Lê Thị Mỹ N3, Ngô Minh C và K1 (chưa xác định rõ lai lịch) hát karaoke tại phòng 5, quán HT ở thôn TĐ Bắc, xã HH, huyện HN, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Anh K đang hát tại phòng 4 qua phòng 5 mời uống bia. Khi K về phòng, đến sân quán thì bị 01 thanh niên chưa rõ lai lịch cầm khúc cây dài khoảng 70cm đánh trúng mông. K chạy vào phòng 5 nói: “Mấy anh, thằng kia nó đánh em”. Nghe vậy, cả nhóm đi ra ngoài sân thì người thanh niên đi ra ngoài cổng. Lúc này, chủ quán HT là anh Phạm Văn L đến đóng cổng quán. Bên ngoài cổng có một nhóm 05 đến 07 thanh niên chưa rõ lai lịch cầm cây, dao tự chế xông vào định đánh nhóm H, nhưng không đánh được nên bỏ đi. Sau đó, nhóm H tính tiền, N2, K1, C, N3 và K về trước. Còn lại H, Đ, V, T3 và Trần H2 nghĩ rằng nhóm thanh niên lạ vừa đánh K là nhóm thanh niên ở HT nên đã thống nhất đi tìm để đánh. Lúc này, Trần Quan T4 điều khiển xe máy chở Đỗ Thành S đi dạo chơi, đến quán HT thấy nhóm H xô xát với khoảng 07 thanh niên ở HT, S gọi cho Phan Trung S nói: “Anh H vừa bị đánh ở HT, giờ xuống coi thử”. S đáp: “Ừ”. Lúc này, S đang nhậu cùng với Phan Trung N, Lê Thanh Q, Nguyễn Tấn N1, Huỳnh Văn H, Trần T, Phạm Huỳnh P, Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn H và Lê Văn T1 tại nhà của S nên S nói lại với cả nhóm: “Anh H vừa bị đánh ở HT, giờ xuống coi thử. Ai đi thì đi, ai không đi thì ở nhà nhậu”. Tr và H3 đi về nhà, còn lại T, S, H1, P1, N1, Q, N, T6 cùng đến quán HT gặp H, Q, Đ, V, T3, H2 và cùng thống nhất đi tìm đánh nhóm thanh niên lạ nghi ở HT để đánh. Trên đường đi, Huỳnh Văn H nhặt được 01 cái rựa không cán ở tiệm tạp hóa ven đường để làm hung khí.
H điều khiển xe hiệu Airblade chở Đ và Q, V điều khiển xe hiệu Winner chở T3, Quan T4 điều khiển xe hiệu Wave chở S (S cầm 1 cái rựa do N đưa), T5 điều khiển xe hiệu Airbalade chở T6, P1 điều khiển xe hiệu Wave chở N và N1 (N1 có cầm theo 1 khúc cây dài 60cm do P1 đưa), T điều khiển xe hiệu Airblade chở H1 và S, Trần H2 điều khiển xe kiểu dáng Wave đến quán cà phê GP thuộc thôn LT 2, xã HT, huyện HN thì cả nhóm dừng xe. N và P1 vào trong quán tìm nhóm thanh niên ở HT nhưng không gặp. Lúc này, T5, T6, V, T3, H2 tiếp tục điều khiển xe máy đến quán cà phê TP ở thôn TĐ, xã HN. T6 vào trong quán tìm nhóm HT nhưng không gặp.
Cả nhóm tiếp tục đi lòng vòng trên nhiều tuyến đường ở địa bàn xã HN và xã HT tìm nhóm thanh niên HT để đánh. Lúc này, H chở Đ, Q; P1 chở N1, N; Quan T4 chở S lưu thông trên đường ĐT639 theo hướng Bắc - Nam, đến trước quán cafe GP thuộc thôn LT 2, xã HT thì gặp Dư Công S điều khiển xe hiệu Exciter chở Nguyễn N4, Trần Hữu Đ, Lê Văn T7 (T7 mang theo 1 đao tự chế bằng kim loại dài 90cm) lưu thông theo hướng ngược lại với mục đích đến cổng chào thôn LT 2, xã HT dẫn Trần Lê Quốc K2, Nguyễn Đăng P1 về (vì K2 và P1 bị 3 thanh niên chưa rõ lai lịch đánh). S nghe tiếng hú từ nhóm H nên dừng xe. Tưởng rằng gặp được nhóm thanh niên xã HT nên H, Quan T4, P1 lần lượt dừng xe cách xe của S khoảng 15m. T7, N4, Đ xuống xe, N4 cầm 1 viên gạch ném về phía nhóm H. Đ nhặt viên gạch bể, N nhặt 05 viên đá ong ném lại nhóm T7. Cùng lúc, T5, V chở T3, Trần H2 chở T6 đi ra đường ĐT639 gặp nhóm H thì cùng dừng xe. Tại đây, T3 nhặt 1 khúc gỗ dừa dài khoảng 1,42m ở lề đường phía Đông ném về phía T7. S điều khiển xe chở N4, Đ và T7 chạy theo hướng Bắc. N tiếp tục nhặt 02 cục đá ong ở lề đường chạy bộ đuổi theo khoảng 50m ném trúng lưng T7, P1 cũng nhặt 02 cục đá ong ném về phía T7, T7 nhảy xuống xe dùng kiếm tự tạo đánh trả lại nhưng không trúng ai. Sau đó, T7 lên xe của S nhưng bị trượt rơi xuống xe. T7 nói với S: “Chạy đi chứ chết chung bây giờ”, thì S chở Đ và N4 chạy thoát về hướng Bắc. Khi T7 vừa đứng dậy, Phạm Huỳnh P cầm cây xông đến ném trúng đầu; T3, H, Q chạy bộ xông đến. T7 vừa cầm đao tự chế chém vào người N nhưng N tránh được, Q cầm rựa xông đến chém trúng bàn tay phải làm rớt đao T7 đang cầm, Q chém tiếp 01 nhát trúng mũi rựa vào cánh tay phải T7. T7 choáng váng lùi lại ngồi trước ngõ nhà anh Nguyễn Văn Xo. N đến dùng tay đánh trúng vùng mặt trái T7, Q dùng tay trái nhặt đao tự tạo của T7 chạy đến chém từ trên xuống vào vùng mông phải của T7, T7 nói: “Thua rồi, thua rồi”, Q nói: “Mầy nhớ mặt tao chưa” rồi cầm rựa và đao đi về phía đồng bọn đang đứng chờ. Thấy T7 đang nằm, N đến dùng thanh tre có 1 đầu nhọn đâm vào vùng đùi trái và đùi phải T7, ngồi trên lưng T7 dùng tay đánh vào vùng mặt, vùng lưng T7. Sau đó, cả nhóm cùng nhau ra về.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 179/2016/PY-TgT ngày 28/9/2016 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Bình Định kết luận: vết thương 1/3 trên ngoài cẳng tay phải lộ cân, gãy 1/3 trên xương trụ đã phẫu thuật; vết thương phức tạp ngón IV, V tay phải gây dứt gân duỗi các ngón IV, V, đứt gân gấp cổ tay trụ, gãy xương đốt 2 ngón V, đã phẫu thuật khâu nối gân, hiện teo cơ ô mô út, bàn tay vuốt trụ. Chấn thương gây sưng nề vùng chẩm - thái dương phải, chảy máu tai phải, tụ máu dưới màng cứng tráng phải và tiểu não phải, vỡ khớp sọ thái dương - chẩm, vỡ xương bản dốc và cánh lớn xương bướm hai bên, vỡ xương trán phải, điện não đồ biến đổi mức độ nhẹ. Vết thương vùng gai chậu trước trên phải hiện để lại sẹo kích thước (2x0,5)cm; vết thương mặt trong 1/3 trên đùi trái hiện để lại sẹo kích thước (2x1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 49%.
Tại phiên tòa ngày 01/02/2018, bị hại Lê Văn T7 yêu cầu các bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 170.000.000đ, bị cáo Lê Thanh Q đã bồi thường cho bị hại 15.000.000đ, các bị cáo Lê Phạm H, Võ T5, Huỳnh Văn T, Nguyễn Hữu Đ, Đỗ Thành S, Đinh Bá T, Đặng Hà V và Nguyễn Tấn N1 mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 11.100.000đ; bị cáo Phạm Huỳnh P đã bồi thường 3.000.000 đồng, bị cáo Phan Trung S đã bồi thường 2.000.000 đồng, bị cáo Phan Trung N đã bồi thường 3.000.000 đồng, Huỳnh Văn H đã bồi thường 3.000.000 đồng, Trần H2 đã bồi thường 2.000.000 đồng, Trần T đã bồi thường 2.000.000 đồng. Bị hại T7 đã bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo: Lê Thanh Q, Đỗ Thành S, Nguyễn Hữu Đ, Đặng Hà V, Lê Phạm H, Võ T5, Nguyễn Tấn N1, Đinh Bá T2 và Huỳnh Văn T; còn lại các bị cáo P1, S, N, T, H2 và H1 bị hại Lê Văn T7 yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 63/2018/HS-ST ngày 28.11.2018 của Tòa án nhân dân huyện HN đã quyết định:
* Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh Q, Nguyễn Tấn N1, Huỳnh Văn H, Trần T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Thanh Q:
Xử phạt bị cáo Lê Thanh Q 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 15/11/2016 đến ngày 12/6/2017 và từ ngày 02/7/2018 đến ngày 25/9/2018.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Văn H:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/8/2017 đến ngày 22/9/2017 và từ ngày 25/6/2018 đến ngày 21/9/2018.
3. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Tấn N1 và Trần T:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn N1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/3/2017 đến ngày 18/7/2017 và từ ngày 22/6/2018 đến ngày 11/9/2018.
Xử phạt bị cáo Trần T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/8/2017 đến ngày 22/9/2017.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
- Ngày 11.12.2018, bị cáo Lê Thanh Q kháng cáo xin giảm hình phạt.
- Ngày 10.12.2018, bị cáo Huỳnh Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 06.12.2018, bị cáo Nguyễn Tấn N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 11.12.2018, bị cáo Trần T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh Q, bị cáo Huỳnh Văn H, bị cáo Trần T. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn N1, giảm nhẹ hình phạt từ 3 tháng đến 6 tháng.
NHẬN NH C A TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Do nghĩ nhóm 05 đến 07 thanh niên chưa rõ lai lịch đứng bên ngoài cổng quán Karaoke HT ở thôn TĐ Bắc, xã HH, huyện HN, tỉnh Bình Định cầm cây, dao tự chế xông vào định đánh nhóm H là nhóm thanh niên ở HT Tây nên các bị cáo gồm Q, H, Hải, T3, P1, N, Đ, V, H2, S, T, H1, T8, N1, S, T6 thống nhất đi tìm nhóm thanh niên ở HT Tây để đánh. Khi đi H1 nhặt 01 cái rựa không cán ở tiệm tạp hóa ven đường, S cầm 01 cái rựa do N đưa, N1 có cầm theo 1 khúc cây dài 60cm do P1 đưa. Khi cả nhóm lưu thông trên đường ĐT639 theo hướng Bắc - Nam, đến trước quán cafe GP thuộc thôn LT 2, xã HT thì gặp nhóm S, N4, Đ, T7 (T7 mang theo 1 đao tự chế bằng kim loại dài 90cm) lưu thông theo hướng ngược lại. S nghe tiếng hú của H thì dừng xe. Tưởng rằng gặp được nhóm thanh niên xã HT Tây nên H, Quan T4, P1 lần lượt dừng xe cách xe của S khoảng 15m. T7, N4, Đ xuống xe, N4 cầm 1 viên gạch ném về phía nhóm H. Đ nhặt viên gạch bể, N nhặt 05 viên đá ong ném lại nhóm T7. T3 nhặt 1 khúc gỗ dừa dài khoảng 1,42m ở lề đường phía Đông ném về phía T7. S điều khiển xe chở N4, Đ và T7 chạy theo hướng Bắc. N tiếp tục nhặt 02 cục đá ong ở lề đường chạy bộ đuổi theo khoảng 50m ném trúng lưng T7, P1 cũng nhặt 02 cục đá ong ném về phía T7, T7 nhảy xuống xe dùng kiếm tự tạo đánh trả lại nhưng không trúng ai. P1 cầm cây xông đến ném trúng đầu T7; T7 vừa cầm đao tự chế chém vào người N nhưng N tránh được, Q cầm rựa xông đến chém trúng bàn tay phải làm rớt đao T7 đang cầm, Q chém tiếp 01 nhát trúng mũi rựa vào cánh tay phải T7. N dùng tay đánh trúng vùng mặt trái T7, Q dùng tay trái nhặt đao tự tạo của T7 chạy đến chém từ trên xuống vào vùng mông phải của T7. N dùng thanh tre có 1 đầu nhọn đâm vào vùng đùi trái và đùi phải T7, ngồi trên lưng T7 dùng tay đánh vào vùng mặt, vùng lưng T7. Hậu quả, bị hại T7 bị tổn thương cơ thể 49%. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận.
Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Thanh Q, Huỳnh Văn H, Nguyễn Tấn N1, Trần T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Q 04 năm tù, ở mức khởi điểm khung hình phạt; bị cáo Huỳnh Văn H 15 tháng tù, dưới mức khởi điểm khung hình phạt là phù hợp với quy định pháp luật. Riêng các bị cáo Nguyễn Tấn N1, Trần T đi theo hỗ trợ tinh thần cho đồng bọn, vai trò của các bị cáo N1, T là người giúp sức; các bị cáo phạm tội lúc chưa thành niên nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo N1 18 tháng, bị cáo T 09 tháng là phù hợp với quy định pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh Q, Huỳnh Văn H, Nguyễn Tấn N1, Trần T.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên.
[3] Về án phí:
Các bị cáo Lê Thanh Q, Nguyễn Tấn N1, Lê H2 phải chịu 200.000đồng án phí HSPT.
Bị cáo Trần T được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT NH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thanh Q, Nguyễn Tấn N1, Lê H2, Trần T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1.1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Thanh Q:
Xử phạt bị cáo Lê Thanh Q 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 15/11/2016 đến ngày 12/6/2017 và từ ngày 02/7/2018 đến ngày 25/9/2018.
1.2. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Văn H:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/8/2017 đến ngày 22/9/2017 và từ ngày 25/6/2018 đến ngày 21/9/2018.
1.3. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Tấn N1 và Trần T:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn N1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/3/2017 đến ngày 18/7/2017 và từ ngày 22/6/2018 đến ngày 11/9/2018.
Xử phạt bị cáo Trần T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/8/2017 đến ngày 22/9/2017.
2. Về án phí: Các bị cáo Lê Thanh Q, Nguyễn Tấn N1, Lê H2 phải chịu 200.000đồng án phí HSPT.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.1 TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định; - Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định; - Cơ quan THAHS CA H.HN; - TA, VKS, CA H.HN; - Chi cục THADS H.HN; - Sở tư pháp; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. H ỒN ÉT Ử PHÚC THẨM THẨM PH N - CH TỌA PH ÊN T A õ Thị Hồng Thu |