vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Thanh Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Thị Thanh Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Thanh Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 02/2021/HS-ST
Ngày: 12/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuyến

Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện VKSND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 600/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Lưu Thị Thanh Đ; sinh năm 1961; tại TP. Hồ Chí Minh; nơi thường trú: số 242/109/5 đường T, Phường A, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Quang P (chết) và bà Trần Thị X (chết); có chồng (không rõ) và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 09/01/2000, bị Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 42 tháng tù về tội “Chứa mại dâm” (Bản án số 2563/HSST); bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2020; bị cáo có mặt.

- Bị hại: Bà Hà Thị Như P, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Trú tại: Kiốt số 37 – 39 Chợ B, Phường A, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1997 (Vắng mặt).

Trú tại: số 376/122 đường Nguyễn Đình C, Phường E, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 09/10/2020, Lưu Thị Thanh Đ điều khiển xe máy biển số 59F1-671.52 đến tiệm vàng Ngọc P, tại Kiốt số 37–39 Chợ B, Phường A, Quận 3 để mua nhẫn cho con. Khi vào tiệm, Đ yêu cầu chị Hà Thị Như P (chủ tiệm vàng) lấy cho Đ 01 chiếc nhẫn kiểu hình chiếc lá vàng 18k, trọng lượng 2,1 chỉ để xem. Sau khi đeo thử nhẫn, Đ tháo ra để trên mặt kính và yêu cầu chị P lấy chiếc nhẫn thứ 2. Lúc này, chị P đưa chiếc nhẫn thứ 2 ra cho Đ thử nhưng không lấy lại chiếc nhẫn ban đầu nên Đ nảy sinh lòng tham, dùng tay trái lấy chiếc nhẫn thứ nhất kẹp vào lòng bàn tay và tiếp tục thử nhẫn thứ 2 vào ngón trỏ bàn tay trái. Sau khi thử xong Đ tháo chiếc nhẫn thứ 2 ra trả lại cho chị P và tiếp tục yêu cầu chị P cho Đ thử thêm 02 chiếc nhẫn nữa. Lúc này, Đ nói không đủ tiền mua nên trả lại nhẫn và bỏ đi nhưng vẫn giữ chiếc nhẫn kiểu hình chiếc lá vàng 18k trong lòng bàn tay bên trái. Khi ra lấy xe, Đ để chiếc nhẫn cùng cái bóp màu đen vào túi áo khoác phía trước bên phải, rồi chay xe đến chợ H để bán nhẫn nhưng khi đến ngã tư đường Trần Hưng Đ – H thì phát hiện nhẫn đã rớt mất.

Sau khi phát hiện bị mất chiếc nhẫn, chị P trình báo Công an Phường A, Quận 3 lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 3 xử lý. Qua truy xét, Cơ quan điều tra xác định Đ là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Ki ốt số 37 – 39 chợ B, Phường A, Quận 3 nên bắt khẩn cấp, khởi tố điều tra.

Quá trình điều tra, Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với toàn bộ tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 135/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3, xác định: 01 nhẫn vàng 18k (hàm lượng 61%), trọng lượng 2,1 chỉ vào thời điểm tháng 10/2020 trị giá 7.211.633 đồng.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-HS ngày 18/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51

2

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị hại, nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đầy đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 09/10/2020 tại tiệm vàng Ngọc P Kiốt số 37–39 Chợ B, Phường A, Quận 3, Lưu Thị Thanh Đ đã lén lút lấy trộm 01 nhẫn vàng 18k của chị Hà Thị Như P, tài sản có giá trị 7.211.633 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần có mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời cũng để răn đe góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối lỗi; người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trách nhiệm dân sự: Do chiếc nhẫn kiểu hình chiếc lá vàng 18k, sau khi lấy trộm bị cáo đã đánh rơi, không thu hồi được. Bị cáo yêu cầu ông Nguyễn Công T (con ruột của bị cáo) cùng với bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 7.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết thêm.

Tang vật vụ án:

- Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng hiệu On the baby; 01 khẩu trang màu xám; 01 áo khoác màu xanh; 01 hộp bóp cầm tay màu đen; 01 hộp đựng son môi màu đen chấm trắng của bị cáo, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì màu trắng được niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động Nokia vỏ màu đen; 01 đồng hồ Jeaniferloper; 01 nhẫn kim loại màu vàng; 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính hột màu trắng; 01 đôi bông tai kim loại màu vàng có hột màu trắng là của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 chiếc xe máy hiệu Click biển số 59F1-671.52, qua xác minh chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Ngọc L (con ruột của bị cáo) cho bị cáo mượn sử dụng. Ngày 04/12/2020, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho bà L.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ

3

luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Thanh Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Thị Thanh Đ 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2020.

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng hiệu On the baby; 01 khẩu trang màu xám; 01 áo khoác màu xanh; 01 hộp bóp cầm tay màu đen; 01 hộp đựng son môi màu đen chấm trắng.

Giao trả cho bị cáo 01 phong bì màu trắng được niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động Nokia vỏ màu đen Imel 1: 355848094200592; Imel 2: 355848099199591; 01 đồng hồ Jeaniferloper; 01 nhẫn kim loại màu vàng; 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính hột màu trắng; 01 đôi bông tai kim loại màu vàng có hột màu trắng.

(Tài sản giao trả được ghi trong Phiếu chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKS-HS ngày 18/12/2020 của Công an Quận 3).

Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ