vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

xử bị can Lê Đình T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173

Bộ luật hình sự. Kèm theo cáo tran g có: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? xử bị can Lê Đình T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN THIỆU HOÁ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:/2019/HSST
Ngày 24/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HOÁ, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hà

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Dũng Tấn.

Ông Lê Minh Nhân.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu, Thư ký Toà án Thiệu Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ngoc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019 mở phiên toà công khai tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018, đối với bị cáo:

Lê Đình T - Sinh ngày 19 tháng 04 năm 1994. Nơi đăng ký NKTT: Thôn ĐH xã TH, huyện Thiệu Hoá, Thanh Hoá. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ngoài hôn thú chưa xác định được bố, Con bà: Phùng Thị T - Sinh năm: 1961, hiện trú tại xã TH, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chưa vợ con. Không tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kế từ ngày 13/11/2018.

- Người Bị hại:

1. Lê Thị X,- sinh năm 1982 Trú tại: Thôn ĐH, xã TH, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa

2. Trịnh Văn Đ - sinh năm 1988 Trú tại: Thôn ĐH, xã TH, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa

- Người bào chữa cho bị cáo chữa cho bị cáo: Bà Lương Thanh Vân – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/10/2018 Lê Đình T sang nhà chị Lê Thị X ở thôn ĐH, xã TH là hàng xóm với nhà T chơi thì thấy chị X đếm tiền và cất trong tủ quần áo ở buồng ngủ của chị X. Đến khoảng 7h sáng ngày 17/10/2018 anh Trịnh Văn Đ chồng của chị X nhờ Lê Đình T sang nhà cắt tóc cho anh Đ và cả hai đi về nhà anh Đ. Về đến nhà anh Đ do nhà không có kéo nên anh Đ đi mượn kéo, T ngồi hút thuốc lào ở hè trong nhà bà Hồng mẹ của anh Đ đang quét dọn ngoài vườn, chị X vợ anh Đ đang nấu rượu ở trong bếp. Lợi dụng lúc nhà chị X không có ai để ý, T đã lén lút đi vào trong buồng, luc tủ quần áo tìm kiếm một lúc thì sờ thấy một túi ni lông, T lôi chiếc túi ni lông ra thấy bên trong có đựng tiền, T cất túi ni lông đựng tiền vào cạp quần của mình rồi đi ra sân nhà chị X, lúc này chị X vẫn đang nấu rượu trong bếp, không chào hỏi ai T bỏ về nhà, rồi vòng ra phía sau nhà vệ sinh nhà T quan sát thấy không có người T lôi túi ni lông ra đếm số tiền có tổng là 15.000.000đ(mười lăm triệu đồng) đều là tiền Polyme có mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), T cầm tiền bỏ vào trong người và vứt túi ni lông màu xanh ngay phía sau nhà vệ sinh. Khi gia đình ăn cơm trưa xong, T đi lên nhà Nguyễn Khắc Ba ở thôn Đông Mỳ 2, xã TH chơi sau đó cả hai lên thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hóa ăn uống, mua sắm hết 500.000đ(năm trăm nghìn đồng) ăn xong T rủ Ba đi hát Karaoke tại quán nhà anh La Đình Tâm thôn Khánh Hội, xã TH. Khi hát xong, T lấy ra 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) đưa cho Ba thanh toán tiền hát. Sau đó T có nhờ Ba giữ hộ 13.000.000đ(mười ba triệu đồng). Trước sự truy xét của Cơ quan CSĐT công an huyện Thiệu Hóa, biết không thế trốn tránh nên cùng ngày T đã đến Công an huyện Thiệu Hóa đầu thú khai báo toàn bộ nội dung sự việc trộm cắp tài sản tại nhà chị Lê Thị X.

Quá trình điều tra Lê Đình T đã thành khẩn khai báo lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an huyện Thiệu Hóa đã thu thập được. Vật chứng trong vụ án đã thu giữ trả lại cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại đã nhận lại tài sản mất trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa trong đơn không yêu cầu bồi thường thêm về mặt dân sự, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, của nhân chứng cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Thiệu Hoá tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Đình T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Đề nghị áp dụng Khoản 1 điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và 2 điều 51, khoản 1 và 2 điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Đình T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bồi thường thêm về mặt dân sự nên viện kiểm sát không có đề nghị gì.

Bào chữa cho Lê Đình T, bà Bà Lương Thanh Vân trình bầy: Lê Đình T thực hiện hành vi"Trộm cắp tài sản" như kết luận của đại diện VKSND huyện Thiệu Hóa là có căn cứ, tuy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng không đáng kể vì giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã đầu thú thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu, bị hai có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Ngoài ra Lê Đình T thuộc hộ cận nghèo đề nghị miễn án phí cho Lê Đình T, theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 / 12 / 2016.

Bị cáo nhận tội, không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần tố tụng và hành vi tố tụng:

Cơ quan điều tra công an huyện Thiệu Hóa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật về thời hạn điều tra, truy tố, các biên bản hỏi cung và các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã được T thủ đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về nội dung:

Tại phiên toà công khai Lê Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ đúng như cáo trạng đã nêu và đã được kiểm tra, thẩm định tại phiên tòa từ đó đủ cơ sở xác định:

Khoảng 07 giờ ngày 17/10/2018 anh Trịnh Văn Đ chồng chị Lê Thị X ở thôn ĐH, xã TH là hàng xóm với nhà T, nhờ Lê Đình T sang nhà cắt tóc cho anh Đ do nhà không có kéo nên anh Đ đi mượn kéo, T ngồi chờ và hút thuốc lào ở hè nhà anh Đ lúc này bà Hồng mẹ của anh Đ đang quét dọn ngoài vườn, chị X vợ anh Đ đang nấu rượu ở trong bếp. Biết nhà anh Đ, chị X có tiền lợi dụng không có ai để ý, T đã lén lút đi vào trong buồng, lục soát trong tủ quần áo tìm kiếm thấy số tiền chị X bỏ trong túi ni lông, T đã lấy số tiền này nhét vào cạp quần của mình rồi đi ra sân và về nhà cất dấu sử dụng cho bản thân.

Sau khi trôm cắp được 15.000.000đ của gia đình chị X, T lên nhà Nguyễn Khắc Ba ở thôn Đông Mỳ 2, xã TH rủ Ba đi chơi, cùng ba ăn uống chơi bời hết 2.000.000đ còn lại 13.000.000đ(mười ba triệu đồng). T đưa cho Ba nhờ Ba giữ hộ.

Vụ án được phát giác, biết không thế trốn tránh được nên cùng ngày T đã đến Công an huyện Thiệu Hóa đầu thú khai báo toàn bộ nội dung sự việc trộm cắp tài sản tại nhà chị Lê Thị X.

Hành vi của Lê Đình T đã cấu thành tội trộm cắp tài sản có giá trị là 15.000.000 đồng, từ đó đủ cơ sở kết luận: Lê Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá truy tố trước Toà là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất vụ án thì thấy:

Đây là vụ án trị an xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, về nhận thức bị cáo biết việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút trộm cắp tài sản của chị Lê Thị X làm tài sản riêng cho bản thân để hòng hưởng thụ trên sức lao động của người khác. Do vậy đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện và phòng ngừa chung. Song xét thấy bị cáo lần đầu phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đã đầu thú và trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm i, b, s khoản 1 và 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét lượng giảm cho bị cáo một phần để bị cáo thấy được sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú ổn định, xét thấy viêc bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian không cần thiết, cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục thành người lương thiện.

Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, lần đầu phạm tội đã trả lại toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu , là hộ cận nghèo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bồi thường gì thêm miễn xét.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật

Từ các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Lê Đình T phạm tội"Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và 2 điều 51, khoản 1 và 2 điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Đình T 07 ( bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Lê Đình T cho UBND xã TH, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Lê Đình T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới để giám sát, giáo dục theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. theo quy định tại khoản 02 điều 6 nghị quyết Số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Luật phí và Lệ phí; Điều 21, khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án. Tiểu mục 1 Mục I; phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.

Buộc Lê Đình T phải nộp 200.000đ án phí HSST

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, Tuyên bố bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận :

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Chủ toạ phiên toà

- VKS Thiệu Hoá

- VKS tỉnh Thanh Hoá -Công an huyên Thiệu Hoá

- Bị cáo, bị hại, người có qlnvlq

- Thi hành án

- Giám đốc án

Lê Văn Hà

- Lưu hồ sơ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Minh Nhân

Lê Dũng Tấn

Lê Văn Hà TAND HUYỆN THIỆU HOÁ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH THANH HOÁ

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

----------o0o--------

-------------------o0o-------------------

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Toà án nhân dân huyện Thiệu Hoá -tỉnh Thanh Hoá

Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hà

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Dũng Tấn và ông Lê Minh Nhân.

Căn cứ vào điều 299 và điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự

Vào hồi 9 giờ 30 ngày 28 thỏng 8 năm 2018. Tại phòng nghi án, hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự

Lê Quang Dự , Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1984 tại xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

Nơi cư trú: xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

Bị Viện kiểm sát huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, truy tố về tội: "Trộm cắp tài sản", theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Lê Quang Dự phạm tội"Trộm cắp tài sản".

2/ Về điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và 2 điều 51, khoản 1 và 2 điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Quang Dự 07 ( bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Lê Quang Dự cho UBND xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Lê Quang Dự thay đổi nơi cư trú thì thực hiện thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới để giám sát, giáo dục theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. theo quy định tại khoản 02 điều 6 nghị quyết Số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Vật chứng đang được quy trữ tại quỹ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa, theo biên bản giao nhận số 22 ngày 06/ 9/2018.

Áp dụng điểm b khoản 2; điểm a khoản 3; điều 106 BLTTHS

Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.000.000đ là thu nhập bất chính của Lê Quang Dự (Một triệu đồng ).

Trả lại tiền hợp pháp cho dự 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Luật phí và Lệ phí; Điều 21, khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án. Tiểu mục 1 Mục I; phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.

Buộc Lê Quang Dự phải nộp 200.000đ án phí HSST

Tuyên bố quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo luật định

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Minh Nhân

Lê Dũng Tấn

Lê Văn Hà TAND HUYỆN THIỆU HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

TỈNH THANH HÓA

Độc Lập – Tự do- Hạnh phúc

Số:02/2019/QĐXXST-HS

Thiệu Hóa, ngày 09 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ SƠ THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA – THANH HÓA

Căn cứ vào các điều 45, 255 và 277 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2018/TLST-HS ngày 12

tháng 12 năm 2018.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:

Lê Đình T, Sinh ngày 19/4/1994.

Nơi ĐKHKTT:Thôn ĐH, xã TH, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

Chỗ ở hiện nay:Thôn ĐH, xã TH, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự

Thời gian mở phiên tòa: 07 giờ 30 ngày 24 tháng 01 năm 2019

Địa điểm mở phiên tòa: Trụ sở tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa

Vụ án được xét xử công khai.

Điều 2.

1. Những người tiến hành tố tụng:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Dũng Tấn, Ông Lê Minh Nhân

Hội thẩm nhân dân dự khuyết: Ông Nguyễn Văn Chinh

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh - Kiểm sát viên

VKSND huyện Thiệu Hóa – Thanh Hóa.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thu – Thư ký Tòa án Thiệu Hóa, 2.

Những người tham gia tố tụng:

Người bị hại:

1. Lê Thị X,- sinh năm 1982

Trú tại: Thôn ĐH, xã TH, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa

2. Trịnh Văn Đ - sinh năm 1988

Trú tại: Thôn ĐH, xã TH, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa

- Người bào chữa cho bị cáo chữa cho bị cáo: Bà Lương Thanh Vân – Trợ giúp

viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hóa.

Cỡ chữ