vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Kim Văn K, Kim Văn M, Trần Nhật A, Nguyễn Hoàng Đức Ah cho UBND xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; bị cáo Nguyễn Hoàng H cho UBND xã T Châu, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội; bị cáo Nguyễn Đăng T, Nguyễn Tiến H cho UBND xã ThAh Đa, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội giám sát, giáo dục tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Kim Văn S - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
HuyÖn PHÚC THỌ
thµnh phè Hµ néi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 02/2024/HS -ST
Ngµy 10 - 01 - 2024

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, T PHỐ HÀ NỘI

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy H.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kin OAh - Giáo viên nghỉ hưu.

Ông Lê Xuân Sơn - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị A - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 112/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Kim Văn S, sinh ngày 06/8/2006; nơi cư trú: Thôn 9, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Văn G và bà Vũ Thị H; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2023 bị Công A huyện Phúc Thọ khởi tố bị cA về hành vi Gây rối trật tự công cộng trong vụ án khác; theo dAh chỉ bản số 305 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Kim Văn K, sinh năm 2003; ĐKNKTT: Số nhà …., đường L Thường Kiệt, Cụm 4, Tổ 12, thị trấn D, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn 9, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Văn K và bà Đỗ Thị B; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; theo dAh chỉ bản số 304 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Đặng Văn Kh, sinh ngày 05/02/2005; nơi cư trú: Thôn 10, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định) và bà Đặng Thị T; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2023 bị Công A huyện Phúc Thọ khởi tố bị cA và bắt tạm giam về hành vi Gây rối trật tự công cộng trong vụ án khác; theo dAh chỉ bản số 306 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đAg bị tạm giam trong vụ án tại Công A huyện Phúc Thọ, có mặt tại phiên tòa.

4. Kim Văn M, sinh ngày 20/10/2005; nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Văn C và bà Lương Thị T; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; theo dAh chỉ bản số 298 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Đức Văn T, sinh ngày 14/7/2006; nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đức Văn T và bà Hữu Thị C; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2023 bị Công A huyện Phúc Thọ khởi tố bị cA về hành vi Gây rối trật tự công cộng trong vụ án khác; theo dAh chỉ bản số 303 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Trần Nhật A, sinh ngày 14/9/2006; nơi cư trú: Thôn 6, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Nhật N và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; theo dAh chỉ bản số 296 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7. Phùng Mạnh H, sinh ngày 15/9/2005; nơi cư trú: Thôn 6, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn H và bà Đặng Thị H; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2023 bị Công A huyện Phúc Thọ khởi tố bị cA về hành vi Gây rối trật tự công cộng trong vụ án khác; theo dAh chỉ bản số 297 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

8. Nguyễn Hoàng Đức Ah, sinh ngày 02/7/2006; nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng Í và bà Vương Thị C; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; theo dAh chỉ bản số 301 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- 2 -

9. Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/5/2005; nơi cư trú: Cụm 2, xã T, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị K; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/7/2023 bị Công A T phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương khởi tố bị cA và bắt tạm giam về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong vụ án khác; theo dAh chỉ bản số 374 lập ngày 08/9/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đAg bị tạm giam trong vụ án tại Chí Linh, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

10. Trần Trọng H1, sinh ngày 30/5/2006; nơi cư trú: Cụm 7, xã T, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Đỗ Thị L; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện ĐA Phượng xử phạt 36 tháng tù về tội Gây rối trât tự công cộng và tội Cố ý gây thương tích; theo dAh chỉ bản số 307 lập ngày 08/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đAg bị tạm giam theo bản án của TAD huyện ĐA Phượng, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

11. Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 09/01/2006; nơi cư trú: Thôn 1, xã T , huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị Kiều H; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; theo dAh chỉ bản số 295 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

12. Đỗ Hồng Q, sinh ngày 10/9/2005; nơi cư trú: Thôn 2, xã V, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Q và bà Cao Thị C; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/9/2023 bị Công A huyện Ba Vì khởi tố bị cA về hành vi Gây rối trật tự công cộng trong vụ án khác; theo dAh chỉ bản số 302 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

13. Nguyễn Đăng T, sinh ngày 12/5/2006; nơi cư trú: Thôn T, xã ThAh Đa, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng T và bà Nguyễn Thị Đ; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; theo dAh chỉ bản số 299 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

14. Nguyễn Tiến H, sinh ngày 25/01/2006; nơi cư trú: Thôn T, xã ThAh Đa, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến Đ và bà Trịnh Thị Y; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; theo dAh chỉ bản số

- 3 -

300 lập ngày 07/7/2023 của Công A huyện Phúc Thọ; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Kim Văn S, Kim Văn M và bị cáo Đức Văn T: Bà Hồ Bích Phương - Trợ giúp viên pháp L của T tâm trợ giúp pháp L Nhà nước T phố Hà Nội, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Nhật A, Phùng M H và bị cáo Nguyễn Hoàng Đức Ah: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Trợ giúp viên pháp L của T tâm trợ giúp pháp L Nhà nước T phố Hà Nội, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Trọng H1 và bị cáo Nguyễn Hoàng H: Ông Nguyễn DAh Sơn - Trợ giúp viên pháp L của T tâm trợ giúp pháp L Nhà nước T phố Hà Nội, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Hồng Q, Nguyễn Đăng T và bị cáo Nguyễn Tiến H: Bà Nguyễn Minh Thu - Trợ giúp viên pháp L của T tâm trợ giúp pháp L Nhà nước T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Kim Văn S: Ông Kim Văn G, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn 9, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Kim Văn M: Ông Kim Văn C, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đức Văn T: Bà Hữu Thị C, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Nhật A: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 6, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phùng M H: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn 6, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đức Ah: Bà Vương Thị C, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Trọng H1: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Cụm 7, xã T, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng H: Bà Vũ Thị Kiều H, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Hồng Q: Ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn 2, xã V, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Đăng T: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn T, xã ThAh Đa, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- 4 -

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tiến H: Ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã ThAh Đa, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA:

+ Ah Đặng QuAg T, sinh ngày 01/10/2006; địa chỉ: Thôn 5, xã V, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội. Người đại diện: Bà PhA Thị X, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 5, xã V, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, vắng mặt.

+ Ah Chu M Q, sinh 29/6/2007; địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội. Người đại diện: Ông Chu Văn B, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, vắng mặt.

+ Ah Kim Văn N, sinh ngày 15/4/2007; địa chỉ: Thôn 10, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội. Người đại diện: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn 10, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, vắng mặt.

+ Ah Kim Văn H, sinh ngày 29/10/2006; địa chỉ: Thôn 10, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội. Người đại diện: Bà QuAg Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn 10, xã H, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, vắng mặt.

+ Ah Kim Văn N, sinh ngày 25/10/2006; địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội. Người đại diện: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 1, xã T Châu, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội, vắng mặt.

+ Ah Nguyễn M , sinh ngày 03/02/2007; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội. Người đại diện: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 23/9/2022, Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 09/01/2006 và Kim Văn Nghĩa, sinh ngày 25/10/2006 đAg ngồi chơi ở dốc đê thuộc xã T Châu, huyện ĐA Phượng, thì bị một nhóm thAh niên khoảng 13- 14 người đi xe máy qua ném cốc thủy tinh, nH chạy được nên không bị thương tích gì. H nhận ra trong nhóm thAh niên đó có Kim Văn S trú ở xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ. Sau đó, Nguyễn Hoàng H kể lại sự việc và bảo Trần Trọng H1 nhắn tin cho Kim Văn S hẹn đánh nhau. H về nhà lấy 02 chiếc tuýp sắt loại phi 21, dài khoảng 1m20, rồi rủ Kim Văn Nghĩa cùng mAg ra bụi cây ở cống nước sau chùa Vĩnh Thọ thuộc thôn 3, T Châu cất giấu, để khi nào đi đánh nhau thì lấy sử dụng làm hung khí.

S 26/9/2022, Trần Trọng H1 dùng tài khoản Facebook có tên “Trọng H1” nhắn tin và gọi điện qua mạng ứng dụng Mesenger đến tài khoản Facebook tên “S Kim” của Kim Văn S hẹn 20 giờ tối có mặt tại cây xăng Hát Môn gần ngã tư G dAh 03 xã T

- 5 -

Châu, Hát Môn, Vân Nam để đánh nhau. Sau đó, H1 báo lại cho H biết và nhắn tin rủ thêm Đặng QuAg Trường (sinh ngày 01/10/2006 trú tại thôn 5, Vân Nam, Phúc Thọ, Hà Nội), Nguyễn Tiến H (sinh ngày 25/01/2006 trú tại ThAh Mạc, ThAh Đa, Phúc Thọ, Hà Nội), Nguyễn Đăng T (sinh ngày 12/5/2006 trú tại thôn Tăng Non, ThAh Đa, Phúc Thọ, Hà Nội) và Nguyễn M Duy (sinh ngày 03/02/2007 trú tại thôn Phú A, ThAh Đa, Phúc Thọ, Hà Nội) cùng đi đánh nhau. Còn Nguyễn Hoàng H nhắn tin rủ thêm Kim Văn Nghĩa, Đỗ Hồng Q cùng đi đánh nhau. Cả nhóm hẹn nhau tập T tại cổng trường THCS T Châu, huyện ĐA Phượng để đi đánh nhau với nhóm Kim Văn S. Khi H1 nhắn tin rủ Duy đi đánh nhau, thì bảo Duy đến đón và mAg theo ba lô để đựng vỏ chai bia. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Duy điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Wave α, màu trắng, biển số: 23B1-337.16 và mAg theo 01 chiếc ba lô màu vàng đến đê Phú A đón H1, rồi chở đến chợ T Châu và nhặt 6 vỏ chai bia Hà Nội đút vào ba lô, tiếp tục di chuyển đến cổng trường THCS T Châu để đợi mọi người.

Sau đó, H điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Wave A, màu xAh, biển số: 29X3-394.49 đến đón Nghĩa. T điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Wave 100, màu đỏ đen, biển số: 29C1 - 057. 34 đến đón H. Còn Trường và Đỗ Hồng Q đi nhờ xe của Bùi Văn Q (sinh năm 2006, trú tại Vân Nam) là bạn của Trường đến tập T cùng mọi người. Khi tập T tại đây, Duy và H tháo bỏ biển số xe máy của Duy và H để vào trong cốp xe, còn T lấy khẩu trAg y tế bịt biển số xe máy của T, mục đích khi cả nhóm đi đánh nhau trên đường không bị phát hiện. Sau đó, H rủ cả nhóm cùng đi lấy tuýp sắt mà H đã chuẩn bị, cất giấu trước đó tại khu vực chùa Vĩnh Thọ, thuộc T Châu, ĐA Phượng và chia cho mọi người. Tại đây H1, Trường, Q chia nhau mỗi người cầm 02 vỏ chai bia thủy tinh nhãn hiệu bia Hà Nội sử dụng để đi đánh nhau. Duy điều kH1 xe máy chở Trường và H1 cầm theo vỏ chai bia và tuýp sắt, H chở Q cầm theo vỏ chai bia và tuýp sắt, T điều kH1 xe chở Nghĩa và H không cầm gì. Tất cả di chuyển theo đường đê Vân Nam qua khu vực dân cư, khi đến đoạn mương khô sau trường THPT Vân Cốc lấy thêm 01 phóng lợn dài khoảng 1m50 (Trường thấy phóng lợn để ở đó từ trước nH không biết của ai, nên rủ nhóm bạn cùng đi lấy). Trường và Q xuống lấy 01 phóng lợn tại bụi cây dưới mương khô. Sau đó, Duy chở Trường cầm vỏ chai bia, phóng lợn và H1 cầm vỏ chai bia, tuýp sắt, H điều kH1 xe chở Q cầm vỏ chai bia, tuýp sắt, T điều kH1 xe chở Nghĩa và H không cầm gì. Cả nhóm đi vào đường bãi Ba Đá thuộc thôn 6, xã Vân Nam, bên phải hướng từ ngã ba đê Vân Nam, T Châu, Hát Môn đi hướng ngã tư cây xăng, cách ngã ba đê Vân Nam khoảng 50 mét, đi vào đường bê tông khoảng 10 mét thì cả nhóm dừng xe lại và tắt máy chờ phục sẵn ở đây, để khi nào nhóm của S đi qua sẽ bất ngờ ném chai bia.

Sau khi H1 nhắn tin hẹn đánh nhau, Kim Văn S kể cho Trần Nhật A (sinh năm: 14/9/2006, trú tại: thôn 6, Hát Môn, Phúc Thọ) và Kim Văn Nam (sinh năm: 15/4/2007, trú tại: thôn 10, Hát Môn, Phúc Thọ) biết về việc H1 nhắn tin hẹn đánh nhau. Sau đó, S chụp ảnh đoạn tin nhắn hẹn đánh nhau và gửi lên nhóm chát trên mạng xã hội Facebook có tên “Đồng Nát” rủ cả nhóm đi đánh nhau với nhóm H1. Trong nhóm chát này có S, A, Nam, Nguyễn Hoàng Đức Ah (sinh ngày 02/7/2006 trú tại thôn 1, Hát Môn, Phúc

- 6 -

Thọ), Đặng Văn Kh (sinh ngày 05/02/2005 trú tại thôn 10, Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội), Chu M Q (sinh ngày 29/6/2007 trú tại thôn 2, Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội), Phùng M H (sinh ngày 15/9/2005 trú tại thôn 6, Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội), Đức Văn T (sinh ngày 14/7/2006 trú tại thôn 4, Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội), Kim Văn H (sinh ngày 29/10/2006 trú tại thôn 5, Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội). Ngoài ra, S rủ thêm Kim Văn K (sinh năm 2003, chỗ ở hiện nay thôn 9, Hát Môn, Phúc Thọ), A rủ thêm Kim Văn M (sinh ngày 20/10/2005 trú tại thôn 1, Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội) cùng đi đánh nhau, cả 02 đều đồng ý.

Chiều ngày 26/9/2022, A tự mua khoảng 20 vỏ chai bia thủy tinh nhãn hiệu bia Hà Nội để làm hung khí đi đánh nhau, rồi đưa cho S mAg ra bãi thuộc thôn 4, xã Hát Môn cất giấu, khi nào đi đánh nhau sẽ lấy ra dùng để ném. Khoảng 20 giờ cùng ngày, S nhắn tin lên nhóm “Đồng Nát” bảo mọi người ra cổng đền Hai Bà Trưng tập T để đi đánh nhau. S bảo Nam đến đón, khi đi S có mAg theo 01 chiếc ba lô màu đen đỏ có in chữ Honda “T Tâm” với mục đích để đựng vỏ chai bia và 01 chiếc dùi cui điện tự chế bằng pin điện thoại được quấn băng dính màu đen. Nam chở S đến vị trí cất giấu vỏ chai bia trước đó, rồi S cho hết vỏ chai bia vào ba lô mAg ra gần cổng đền Hai Bà Trưng cất giấu tại gốc cây xà cừ. Sau đó, Nam về lấy 01 chiếc dao tự chế bằng kim loại, dài chừng 60 cm, đầu nhọn, bản rộng phần lưỡi khoảng 5 cm, có chuôi cầm bằng gỗ mAg đi để làm hung khí đánh nhau. Sau đó, lần lượt K, H, M, H, A, T, Kh, Đức Ah và Q đến tập T. Do không đủ xe nên Đức Ah chở T đi đến nhà Ah Bùi Văn Ứng (sinh năm 1995 tại thôn 1, T Châu, là Ah rể T) lấy thêm một xe máy, nH do xe máy hết xăng nên Đức Ah chở T đến cây xăng Thọ A mua 2 chai xăng 1,5 lít, mAg về nhà Ah rể T, đổ hết 01 chai xăng vào xe của mình và thêm nửa chai 1,5 lít vào xe T, còn lại T đưa cho S cất ở gần cổng đền Hai Bà Trưng, khi nào cần sẽ lấy sử dụng.

Sau khi tập T đầy đủ mọi người, cả nhóm của Kim Văn S di chuyển đến cây xăng Hát Môn để đánh nhau với nhóm của H1 như đã hẹn trước. Đức Ah đeo ba lô đựng vỏ chai bia, Q cầm dao, H cầm dùi cui điện tự chế. Sau đó, K điều kH1 xe máy Honda Dream, màu bạc, đeo biển kiểm soát: 20H3-6582 của K chở H. M đi xe máy Honda Wave RS, màu xAh đậm-đen, biển số: 33R3-8996 của M chở A và Đức Ah. Kh đi xe máy Honda Wave RS, màu đỏ đen, không đeo biển số (xe mượn của Nguyễn Lương Chí Công, sinh năm 2006, trú tại thôn 10, Hát Môn) chở S. H đi xe máy Honda Wave A, màu đen, biển số: 29V3-576.90 của H chở Nam. T đi xe máy Honda Wave 100, màu đỏ, biển số: 29V3-6833 của T chở Q. Cả nhóm đi theo tuyến đường liên thôn qua khu dân cư, từ cổng đền Hai Bà Trưng theo đường sông Hát ra cầu số 8 rồi rẽ trái ra cây xăng ở ngã tư T Châu, Hát Môn, Vân Nam. Cả nhóm đi xe máy phóng nhAh, lạng lách, rồ ga ép số gây mất A ninh trật tự, khi đi đến gần hết khu dân cư thì cả nhóm thấy 01 kiêu gạch ở vệ đường, cả nhóm dừng xe xuống nhặt gạch. S, Q, Nam xuống nhặt gạch và đập ra làm đôi, rồi tiếp tục đi đến cây xăng nH không gặp nhóm H1 nên đi thẳng về hướng ngã ba đê Vân Nam, Hát Môn, T Châu để tìm nhóm H1.

- 7 -

Lúc này, nhóm của H1 đAg phục sẵn ở đường bê tông đi vào bãi Ba Đá thuộc thôn 6, xã Vân Nam, bên trái hướng từ cây xăng đi lên ngã ba đê. Khi thấy nhóm của S đi qua, cả nhóm của H1 hô lên “Chúng nó đây rồi”, rồi H1, Trường, Q và Nghĩa cầm mỗi người 01 vỏ chai bia ném về hướng nhóm của S đAg di chuyển trên đường, Nam bị vỏ chai bia ném trúng vào chân nH không bị thương tích gì. Thấy vậy, nhóm của S dừng xe lại tại ngã ba đê, S, Kh, Q, A, Đức Ah và Nam lấy vỏ chai bia trong ba lô và lấy gạch quay lại ném về hướng nhóm của H1 nH không trúng ai. Do thấy nhóm của S đông nên H và Duy lên xe phóng bỏ chạy, còn T, H bỏ xe máy lại vị trí phục kích chạy bộ vào sâu trong bãi. Khoảng 03 phút sau, không thấy nhóm của H1 ném nữa nên cả nhóm của S lên xe chạy theo đường đê về hướng xã Vân Nam, đi khoảng 01 km thì rẽ trái xuống đường đất, qua 01 cửa hàng bán vật liệu xây dựng. Tại đây, cả nhóm dừng xe để nhặt gạch xong đi ra tỉnh lộ 417 và rẽ qua xóm Mắt Rồng, qua khu dân cư về xã Hát Môn rồi tập T lại ở cổng đền Hai Bà Trưng. Tại đây, T mAg chai xăng ra thì M đổ xăng vào 3 vỏ chai bia thủy tinh rồi cắt áo chống nắng của Q làm nút chai để chế T bom xăng. Lúc này, T gọi thêm cho Nguyễn Trọng T (sinh ngày 19/5/2005 trú tại cụm 2, xã Thọ A, huyện ĐA Phượng) rủ đến cây xăng Hát Môn để giúp T đánh nhóm H1. Sau khi chế bom xăng xong, cả nhóm của S tiếp tục đi xe máy tuần hành, qua xóm Mắt Rồng ra đường tỉnh lộ 417 và rẽ phải hướng về cây xăng Hát Môn để tìm nhóm của H1 để tiếp tục đánh nhau.

Sau khi bị nhóm của S ném chai bia và gạch, nhóm của H1 ở trong đường bãi khoảng 10 phút thì Duy chở H1, H chở Trường và Q cầm theo tuýp sắt và phóng lợn, vỏ chai bia còn lại đi ra cây xăng để tìm nhóm của S, còn T chở Nghĩa và H về trước. Không thấy nhóm của S đâu nên Duy, H1, H, Trường và Q đi xe theo đường tỉnh lộ 417 về hướng xã Vân Nam. Khi đến đoạn đường gần lối rẽ vào ngõ 13, thôn 6, Vân Nam (cách lối rẽ vào ngõ 13 khoảng 100 mét), thì gặp nhóm của H1, 02 nhóm đi ngược chiều nhau. Khi gặp nhau, cả 02 nhóm đều cầm vỏ chai bia ném về phía nhau, Duy bị chai thủy tinh ném trúng vào bắp chân trái, bị rách da chảy máu nhẹ. Lúc này, nhóm của H1 phóng xe nhAh bỏ chạy về hướng UBND xã Vân Nam đi qua khu vực dân cư. Lúc này, T điều kH1 xe máy Honda Winner, màu đen, đeo biển kiểm soát: 29Y1-539.55 đến nơi, M sAg ngồi sau xe T. Thấy vậy, nhóm của S quay xe lại đuổi theo nhóm H1 về hướng UBND xã Vân Nam, T chở M đuổi theo cùng cả nhóm S, do nhóm H1 bỏ chạy phóng nhAh nên nhóm S không đuổi kịp, đuổi được khoảng 01 km thì cả nhóm quay xe lại, rồi đi đến đường bê tông vào ngõ 13, thôn 6, Vân Nam và tập T, mục đích nếu nhóm của H1 đi qua sẽ tiếp tục đuổi đánh. Lúc này, A và Đức Ah về trước, còn S, K, M, T, H, Nam, Q, Kh và T đứng tập T tại đây. Nhóm của H1 sau khi bỏ chạy về hướng UBND xã Vân Nam thì rẽ trái vào bãi xóm Lầy, xã Vân Phúc ném bỏ tuýp sắt và phóng lợn xuống ruộng lúa đối diện nghĩa trAg xã Vân Nam, xong cả nhóm đi về nhà.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công A xã Vân Nam nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về vụ việc nêu trên, đã tổ chức tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự trên địa bàn. Tổ công tác Công A xã Vân Nam gồm: Đồng chí Đặng Quốc Việt – nguyên phó trưởng CAX Vân Nam (tổ trưởng), các đồng chí Vương Đức C, Đặng

- 8 -

Minh Toàn, Đào Ngọc Hải (tổ viên). Đồng chí Việt mAg mặc thường phục, đi xe máy cá nhân mục đích tuần tra mật phục bí mật, đồng chí C mặc trAg phục đúng điều lệnh Công A nhân dân điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu trắng, biển số 29B1-027.99, đồng chí Hải mAg mặc đúng điều lệnh Công A nhân dân điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu xAh-đen, biển số 29B1-030.90 chở đồng chí Toàn (cả hai xe của Công A xã Vân Nam được ngành trAg cấp). Tổ công tác xuất phát từ UBND xã Vân Nam, ra tỉnh lộ 417 hướng về ngã tư cây xăng Hát Môn. Khi tổ công tác đi đến khu vực đường bê tông rẽ vào ngõ 13, xóm Mắt Rồng thì phát hiện nhóm của S đAg tụ tập tại đây, nên đã tiến hành tiếp cận và yêu cầu kiểm tra. Tuy nhiên, khi thấy tổ công tác Công A xã Vân Nam đến kiểm tra, S, M, T, H, Nam, Q, Kh và T không chấp hành mà điều kH1 xe máy bỏ chạy vào trong xóm Mắt Rồng. Còn K không bỏ chạy nên bị lực lượng Công A xã yêu cầu đưa phương tiện về trụ sở để làm việc. Do nhóm đối tượng không chấp hành bỏ chạy nên đồng chí Hải đi xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu xAh-đen, biển số 29B1-030.90, đồng chí Toàn điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Futeure, màu trắng, biến số 29B1-027.99 đuổi theo nhóm đối tượng vào trong ngõ 13, thôn 6, Vân Nam. Đồng chí C cũng đi xe máy cá nhân của đồng chí Việt đuổi theo nhóm đối tượng cùng đồng chí Hải và đồng chí Toàn. Lúc đó, T điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, đeo biển kiểm soát: 29Y1-539.55 chở M, Kh điều kH1 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, không đeo biển kiểm soát chạy vào đường ngõ cụt nên quay xe lại chạy ra ngoài. Lúc này, tổ công tác đuổi theo nhóm đối tượng vào trong ngõ 13, thôn 6 đến cổng nhà ông Đặng Xuân Trương và Doãn Văn Thân, thấy 02 xe quay đầu chạy ngược ra ngoài ngõ, tổ công tác ra hiệu lệnh cho các đối tượng dừng lại, nH không ai chấp hành. Thấy vậy, đồng chí Hải nhAh chóng quay xe máy ngAg đường ngõ để chặn xe các đối tượng. Do cự ly gần, không làm chủ được tốc độ, không phAh kịp nên xe do T điều kH1 đã đâm thẳng vào cánh yếm bên phải xe máy của đồng chí Hải làm đồng chí Hải bị ngã ra đường, nH đồng chí Hải nhAh chóng đứng dậy giữ đối tượng T và phương tiện lại. Cùng lúc này, Kh đi tới nên đồng chí C và đồng chí Toàn giữ lại cùng phương tiện, còn các đối tượng khác bỏ chạy thoát.

Hậu quả: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu xAh đen, BKS: 29B1 – 030.09 của Công A T phố Hà Nội trAg cấp cho Công A xã Vân Nam bị hư hỏng: Vỡ nhựa cánh yếm bên phải, vỡ nhựa dè chắn bùn phía sau bánh xe trước, vỡ nhựa hộp lọc gió, vỡ nhựa tẩu buzi.

Bản kết luận định giá tài sản số 42/2022/KL-HĐĐGTX ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện Phúc Thọ xác định. Tại thời điểm ngày 26/9/2022, giá trị những tài sản xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu xAh đen, BKS: 29B1 – 030.09 của Công A T phố Hà Nội trAg cấp cho Công A xã Vân Nam bị hư hỏng, tổng cộng là 808.000 đồng (tám trăm linh tám nghìn đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm:

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu xAh đen, BKS: 29B1 – 030.09 (biển xAh) bị vỡ cánh yếm và ốp sườn xe bên phải.

- 9 -

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, đeo biển kiểm soát: 29Y1-539.55, số máy: KC34E1212578, số khung: RLHKC3714MY101999.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, không đeo biển kiểm soát: số máy: HC09E-6536694, số khung: RLHHC09056Y536613.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu bạc, đeo biển kiểm soát: 20H3-6582, số máy: VDECPI150FMG002610, số khung: VDEPCGO12DE 002610.

- 01 (một) viên gạch không rõ hình KT (7x8x6) cm.

- 03 (ba) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội.

- 01 (một) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội được nút miệng chai bằng vải màu đen.

- 01 (một) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội, đáy chai bị vỡ thủy tinh.

- 01 (một) dao tự chế dài 60 cm, đã cũ, phần chuôi cầm bằng gỗ màu nâu xám dài 18 cm, lưỡi nhọn, bản rộng nhất lưỡi 03 cm (do Chu M Q tự nguyện giao nộp).

- 01 (một) chiếc ba lô có 02 quai đeo lưng, màu đen đỏ KT (30x40x15) cm, có in chữ Honda T Tâm. Bên trong ba lô đựng 05 nửa viên gạch đỏ kích thước khác nhau và một cục màu đen được quấn băng dính đen xung quAh KT (5x7x2) cm có 02 đầu kim loại dài 02 cm.

- Nhiều mảnh vỡ thủy tinh không rõ hình.

Tại Bản kết luận giám định số 7710/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công A T phố Hà Nội, kết luận:

+ Xe máy nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, đeo biển kiểm soát: 29Y1-539.55, có số máy: KC34E1212578, số khung: RLHKC3714MY101999 là số nguyên thuỷ.

+ Xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu bạc, đeo biển kiểm soát: 20H3-6582, có số máy: VDECPI150FMG002610, số khung: VDEPCGO12DE 002610 là số nguyên thuỷ.

+ Xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, không đeo biển kiểm soát, có số máy: HC09E-6536694, số khung: RLHHC09056Y536613 là số nguyên thuỷ.

Đối với các đối tượng Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H, Đặng QuAg Trường, Nguyễn M Duy, Kim Văn Nghĩa cùng có hành vi chuẩn bị, mAg theo hung khí nguy hiểm (gạch, tuýp sắt, vỏ chai bia..) đi xe máy phóng nhAh, tuần hành trên các tuyến đường giao thông tỉnh lộ, đường liên xã qua các khu dân cư sinh sống tại địa bàn huyện Phúc Thọ để đánh nhau, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến A ninh trật tự, A toàn xã hội. Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 26/9/2022, các đối tượng này đều chưa đủ 16 tuổi, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Khoản 2 Điều 318, Bộ luật Hình sự. Vì vậy, các đối

- 10 -

tượng trên đều có hành vi vi phạm hành chính “Gây rối trật tự công cộng mà có mAg theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương” quy định tại điểm b khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Phúc Thọ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng nêu trên.

Nguyễn Trọng T có hành vi đâm xe máy vào xe công vụ của Công A xã Vân Nam của Nguyễn Trọng. Quá trình điều tra xác định, khi đồng chí Đào Ngọc Hải quay xe chặn ngAg đường ngõ, vì lúc đó đAg hoảng sợ bỏ chạy, cự ly quá gần, nên T không làm chủ được tốc độ, đã để xe mô tô do mình điều kH1 va chạm với xe máy của lực lượng Công A xã Vân Nam. Ngoài ra, T không có hành vi gì chống đối, cản trở lực lượng Công A xã Vân Nam. Vì vậy, Cơ quA điều tra không đề cập xử L Nguyễn Trọng T về hành vi Chống người thi hành công vụ, quy định tại Điều 330 BLHS.

Đối với việc các đối tượng mAg theo hung khí, tụ tập đông người tại đường bê tông đi vào ngõ 13 thôn 6, Vân Nam, thì lực lượng Công A xã Vân Nam tuần tra kiểm soát đến yêu cầu kiểm tra nH chỉ có đối tượng Kim Văn K chấp hành không bỏ chạy, còn các đối tượng Kim Văn S, Đặng Văn Kh, Phùng M H, Đức Văn T, Kim Văn M, Nguyễn Trọng T, Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H đều không chấp hành, phóng xe máy bỏ chạy. Vì vậy, các đối tượng Kim Văn S, Đặng Văn Kh, Phùng M H, Đức Văn T, Kim Văn M, Nguyễn Trọng T, Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H còn có hành vi vi phạm hành chính “Không chấp hành yêu cầu thAh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc nhiệm vụ khác của người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Phúc Thọ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng nêu trên.

Đối với Nguyễn Lương Chí Công, là người cho Đặng Văn Kh mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, không đeo biển kiểm soát: số máy: HC09E-6536694, số khung: RLHHC09056Y536613, nH khi mượn Kh không nói cho Công biết mục đích sử dụng xe máy để đi đánh nhau, Công hoàn toàn không biết việc Kh mượn xe máy của mình để sử dụng đi đánh nhau. Vì vậy, Cơ quA CSĐT - CAH Phúc Thọ không đề cập xử L gì, chỉ nhắc nhở, giáo dục phòng ngừa chung.

Bản cáo trạng số 114/CT- VKSĐP ngày 14/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội truy tố các bị cáo Kim Văn S, Kim Văn K, Đặng Văn Kh, Kim Văn M, Đức Văn T, Trần Nhật A, Phùng M H, Nguyễn Hoàng Đức Ah, Nguyễn Trọng T, Trần Trọng H1, Nguyễn Hoàng H, Đỗ Hồng Q, Nguyễn Đăng T và Nguyễn Tiến H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quA điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

- 11 -

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quA điểm truy tố hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu T tội gây rối trật tự công cộng như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Kim Văn S và Trần Trọng H1 mỗi bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51( Q được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Đặng Văn Kh, Đức Văn T, Phùng M H, Nguyễn Trọng T, Đỗ Hồng Q mỗi bị cáo từ 13 tháng đến 15 tháng tù;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Kim Văn K từ 24 tháng đến 27 tháng tù, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Kim Văn M, Trần Nhật A, Nguyễn Hoàng Đức Ah, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Tiến H mỗi bị cáo từ 13 tháng đến 15 tháng tù, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách từ 26 tháng đến 30 tháng;

- Đề nghị xử L vật chứng của vụ án và trách nhiệm chịu án phí của các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Kim Văn S, Kim Văn M và bị cáo Đức Văn T trình bày: Khi phạm tội các bị cáo đều chưa T niên, khả năng nhận thức về xã hội và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật về xử L đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để áp dụng hình phạt nhẹ đối với các bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Nhật A, Phùng M H và bị cáo Nguyễn Hoàng Đức Ah trình bày: Nguyên nhân, điều kiện phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi và bị lôi kéo. Chưa phát triển đầy đủ về nhận thức xã hội, không nhận thức được hậu quả xảy ra, đều không phải là người chủ mưu, cầm đầu, nên đề nghị hội đồng xét căn cứ Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Trọng H1 và bị cáo Nguyễn Hoàng H trình bày: Khi phạm tội hai bị cáo đều dưới 18 tuổi, nên bị hạn chế về nhận thức xã hội và thiếu hiểu biết về pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ để áp dụng mức hình phạt phù hợp với các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Hồng Q, Nguyễn Đăng T và bị cáo Nguyễn Tiến H trình bày: Khi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi, còn bồng bột, bị hạn chế về nhận

- 12 -

thức xã hội và không hiểu biết về pháp luật nên đã vi phạm pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ để áp dụng mức hình phạt phù hợp với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Việc khởi tố, truy tố và xét xử được các cơ quA tiến hành tố tụng huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục bA hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Về nội dung: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để khẳng định: Do mâu thuẫn từ trước, tối ngày 26/9/2022, nhóm thAh niên gồm Kim Văn S, Trần Nhật A, Nguyễn Hoàng Đức Ah, Đặng Văn Kh, Phùng M H, Đức Văn T, Kim Văn K, Kim Văn M, Nguyễn Trọng T, Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H (trong đó Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H đều dưới 16 tuổi) và nhóm thAh niên gồm Trần Trọng H1, Nguyễn Hoàng H, Đỗ Hồng Q, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Tiến H, Đặng QuAg Trường, Nguyễn M Duy, Kim Văn Nghĩa (trong đó Đặng QuAg Trường, Nguyễn M Duy, Kim Văn Nghĩa đều dưới 16 tuổi) đã chuẩn bị, mAg theo hung khí nguy hiểm (gạch, tuýp sắt, vỏ chai bia..) đi xe máy phóng nhAh, rú ga, nẹp pô, tuần hành trên tuyến đường giao thông tỉnh lộ 417, đường liên các xã Hát Môn, Vân Nam, qua các khu dân cư sinh sống. Khi gặp nhau, 02 nhóm đối tượng này đều hò hét, chửi bới, ném gạch, ném vỏ chai thủy tinh vào nhau. Hành vi đi xe máy với tốc độ cao, phóng nhAh, bấm còi inh ỏi, hò hét và dùng hung khí đuổi đánh nhau của các bị cáo gây huyên náo, làm mất trật tự tại khu vực hai xã Vân Nam và Hát Môn , huyện Phúc Thọ gây ảnh hưởng xấu đến A ninh trật tự, A toàn xã hội, khiến người dân sống quAh khu vực hoAg mAg, lo lắng. Ngày 24/02/2023, Chủ tịch UBND xã Vân Nam đã có văn bản số 07/UBND và Chủ tịch UBND xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ đã có văn bản số 03/UBND đề nghị xử L nghiêm các đối tượng về hành vi vi phạm pháp luật để đảm bảo ổn định trật tự, A toàn xã hội tại địa phương. Hành vi nêu trên của các bị cáo Kim Văn S, Kim Văn K, Đặng Văn Kh, Kim Văn M, Đức Văn T, Trần Nhật A, Phùng M H, Nguyễn Hoàng Đức Ah, Nguyễn Trọng T, Trần Trọng H1, Nguyễn Hoàng H, Đỗ Hồng Q, Nguyễn Đăng T và Nguyễn Tiến H đã phạm vào tội Gây rối trật tự công cộng thuộc trường hợp “dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố các bị cáo về tội dAh và viện dẫn điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

- 13 -

. Xét tính chất của vụ án, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trËt tù c«ng céng; nếp sống văn minh, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động bình thường của mọi người ở những nơi công cộng; gây náo loạn và bøc xóc trong quÇn chóng nh©n d©n; làm ¶nh h ëng ®Õn t×nh hình A ninh chính trị tại địa phương. Đánh giá hành vi, nhân thân của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp:

- Đối với bị cáo Kim Văn S và Trần Trọng H1 là đối tượng cầm đầu, khởi xướng việc gây rối trật tự công cộng. Hai bị cáo đã hẹn đánh nhau và rủ thêm một số bị cáo khác theo phe của mình mAg theo hung khí (vỏ chai bia, tuýp sắt...) đến cây xăng Hát Môn gần ngã tư G dAh 03 xã T Châu, Hát Môn, Vân Nam để đánh nhau. Hành vi của hai bị cáo cùng các bị cáo khác gây náo loạn trật tự nơi công cộng, coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Hai bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Kim Văn S ngày 26/9/2023 bị Công A huyện Phúc Thọ khởi tố bị cA về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đAg điều tra); bị cáo Trần Trọng H1 ngày 15/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện ĐA Phượng xử phạt 36 tháng tù về tội Gây rối trât tự công cộng và tội Cố ý gây thương tích (bản án chưa có hiệu lực pháp luật), nên cần phải xử L nghiêm cách ly hai bị cáo ra ngoài xã hội một thời giA để giáo dục và cải tạo bị cáo T công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt. Khi thực hiện hành vi phạm tội cả hai bị cáo dưới 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về xử L đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp và xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự. Do bản án hình sự sơ thẩm số 135/2023/HSST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Trọng H1.

- Đối với các bị cáo Đặng Văn Kh, Đức Văn T, Phùng M H, Nguyễn Trọng T và Đỗ Hồng Q tham gia với vai trò là người giúp sức và là người trực tiếp tham gia cùng các bị cáo khác gây rối trật tự công cộng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nH vẫn thực hiện. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, cụ thể: Bị cáo Đặng Văn Kh, Đức Văn T, Phùng M H ngày 26/9/2023 đều bị Công A huyện Phúc Thọ khởi tố bị cA về hành vi Gây rối trật tự công cộng, bị cáo Nguyễn Trọng T ngày 11/7/2023 bị Công A T phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương khởi tố bị cA về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo Đỗ Hồng Q ngày 12/9/2023 bị Công A huyện Ba Vì khởi tố bị cA về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải xử L nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời giA để giáo dục và cải tạo bị cáo T công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tại cơ quA điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T

- 14 -

khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm cho các bị cáo một phần về hình phạt. Riêng bị cáo Phùng M H gia đình có công với cách mạng, có ông là liệt sỹ, bà ngoại tham gia kháng c chống Mỹ, gia đình khó khăn mẹ đẻ là người khuyết tật; bị cáo Đỗ Hồng Q gia đình được tặng nhiều giấy khen về sản xuất, kinh doAh giỏi của các cấp chính quyền địa phương, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm cho các bị cáo một phần về hình phạt. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về xử L đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp và xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.

- Đối với các bị cáo Kim Văn K, Kim Văn M, Trần Nhật A, Nguyễn Hoàng Đức Ah, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Đăng T và Nguyễn Tiến H tham gia với vai trò là người giúp sức và trực tiếp tham gia cùng các bị cáo khác gây rối trật tự công cộng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo ảnh hưởng xấu đến A ninh trật tự, A toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử L để giáo dục và cải tạo các bị cáo T công dân có ích cho xã hội. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự và đều có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo Trần Nhật A đAg đi học lớp 12 và gia đình có công với cách mạng trong cuộc kháng c chống Mỹ, bị cáo Nguyễn Hoàng Đức Ah được ủy bA mặt trật tổ quốc xã Hát Môn có thư cảm ơn do tích cực tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo và có ông ngoại tham gia kháng c, bị cáo Nguyễn Tiến H gia đình có công với cách mạng, có ông nội và bố tham gia kháng c. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Kim Văn M, Trần Nhật A, Nguyễn Hoàng Đức Ah, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Đăng T và Nguyễn Tiến H đều dưới 18 tuổi, nên Héi ®ång xÐt xö sÏ ¸p dông c¸c quy ®Þnh cña ph¸p luËt vÒ xö L ®èi víi người dưới 18 tuổi ®Ó ¸p dông møc h×nh ph¹t phï hîp ®èi víi các bÞ c¸o và xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự . Xét các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, nên chỉ cần áp dụng mức hình phạt cho các bị cáo được cải tạo, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ cải tạo bị cáo và dăn đe người khác.

. Đối với các đối tượng Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H, Đặng QuAg Trường, Nguyễn M Duy, Kim Văn Nghĩa cùng có hành vi Gây rối trật tự công cộng . Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 26/9/2022, các đối tượng này đều chưa đủ 16 tuổi, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự. Công A huyện Phúc Thọ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 15 -

. Đối với Nguyễn Trọng T có hành vi đâm xe máy vào xe công vụ của lực lượng Công A xã Vân Nam. Quá trình điều tra xác định T không có hành vi chống đối, cản trở lực lượng Công A xã Vân Nam. Vì vậy, Cơ quA điều tra không đề cập xử L Nguyễn Trọng T về hành vi Chống người thi hành công vụ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Đối với việc các đối tượng mAg theo hung khí, tụ tập đông người tại đường bê tông thôn 6, Vân Nam, thì lực lượng Công A xã Vân Nam tuần tra kiểm soát đến yêu cầu kiểm tra nH chỉ có đối tượng Kim Văn K chấp hành không bỏ chạy, còn các đối tượng Kim Văn S, Đặng Văn Kh, Phùng M H, Đức Văn T, Kim Văn M, Nguyễn Trọng T, Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H đều không chấp hành, phóng xe máy bỏ chạy. Vì vậy, các đối tượng Kim Văn S, Đặng Văn Kh, Phùng M H, Đức Văn T, Kim Văn M, Nguyễn Trọng T, Kim Văn Nam, Chu M Q, Kim Văn H còn có hành vi vi phạm hành chính “Không chấp hành yêu cầu thAh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc nhiệm vụ khác của người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Phúc Thọ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng nêu trên là có căn cứ.

. Đối với Nguyễn Lương Chí Công, là người cho Đặng Văn Kh mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, không đeo biển kiểm soát: số máy: HC09E-6536694, số khung: RLHHC09056Y536613, nH khi mượn Kh không nói cho Công biết mục đích sử dụng xe máy để đi đánh nhau, Công hoàn toàn không biết việc Kh mượn xe máy của mình để sử dụng đi đánh nhau. Vì vậy, Cơ quA CSĐT - CAH Phúc Thọ không đề cập xử L là có căn cứ.

. Về xử L vật chứng của vụ án:

- Đối với những chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave A, màu xAh, BKS 29X3 - 394.49 do Nguyễn Hoàng H điều kH1; Honda Wave Apha, màu trắng, BKS 23B1 - 337.16 do Nguyễn M Duy điều kH1; Honda Wave RSX, màu xAh đậm, đen BKS 33R3

- 8996 do Kim Văn M điều kH1; Honda Wave100, màu đỏ, BKS 29V3 - 6833 do Đức Văn T điều kH1 và Honda Wave 110, BKS 29C1 - 057.34 do Nguyễn Đăng T điều kH1. Quá trình điều tra xác định những chiếc xe máy trên đều thuộc quyền sở hữu của người thân của H, Duy, M T, T. Khi các đối tượng trên sử dụng xe họ đều không biết các đối tượng sử dụng vào việc gây rối trật tự công cộng, nên Cơ quA điều tra không tạm giữ những chiếc xe trên là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave A, màu đen, BKS 29V3 - 576.90 do Kim Văn H điều kH1. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của Kim Văn H. Tuy nhiên, chiếc xe này đAg bị tạm giữ để phục vụ trong một vụ án khác, nên Cơ quA điều tra không đề cập là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.

- 16 -

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu xAh đen, BKS: 29B1 - 030.09 (biển xAh) là xe công vụ trAg cấp cho Công A xã Vân Nam, huyện Phúc Thọ. Cơ quA quản L tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Cơ quA CSĐT đã ra Quyết định xử L đồ vật, trả lại cho Công A xã Vân Nam là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, đeo BKS: 29Y1-539.55, số máy: KC34E1212578, số khung: RLHKC3714MY101999 do Nguyễn Trọng T điều kH1. Quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của bà Lê Thị Kim Ánh là mẹ đẻ của Nguyễn Trọng T. Bà Ánh không biết việc T lấy chiếc xe của mình để sử dụng tham gia đánh nhau, gây rối trật tự công cộng. Vì vậy, Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện phúc Thọ đã trả lại chiếc xe nêu trên cho bà Lê Thị Kim Ánh là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, không đeo biển kiểm soát, số máy: HC09E-6536694, số khung: RLHHC09056Y536613 do Đặng Văn Kh điều kH1 mượn của Nguyễn Lương Chí Công (sinh năm: 2006, trú tại: thôn 10, Hát Môn, huyện Phúc Thọ). Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Lương Cường là bố đẻ của Nguyễn Lương Chí Công. Công khai không biết việc Kh mượn xe để tham gia đánh nhau, gây rối trật tự công cộng. Vì vậy, Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện phúc Thọ đã trả lại chiếc xe nêu trên cho ông Nguyễn Lương Cường là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu bạc đã cũ, gắn BKS: 20H3 - 6582, số máy: VDECPI150FMG002610, số khung: VDEPCG012DE 002610 do Kim Văn K điều kH1. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của K, là phương tiện đối tượng sử dụng để đi tuần hành trên các tuyến đường, mAg theo hung khí đánh nhau gây rối trật tự công cộng vào tối ngày 26/9/2022. Vì vậy, tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) viên gạch không rõ hình, kích thước khoảng (7x8x6)cm; 03 (ba) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội; 01 (một) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội, được nút miệng chai bằng vải màu đen; 01 (một) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội, đáy chai bị vỡ; 01 (một) dao tự chế dài 60 cm, đã cũ, phần chuôi cầm bằng gỗ màu nâu xám dài 18 cm, lưỡi nhọn, bản rộng nhất lưỡi khoảng 03 cm; 01 (một) chiếc ba lô có 02 quai đeo lưng, màu đen đỏ, kích thước (30x40x15) cm, có in chữ Honda ThAh Tâm; 05(năm) nửa viên gạch đỏ kích thước khác nhau; 01(một) cục (pin) màu đen được quấn băng dính đen xung quAh, kích thước khoảng (5x7x2)cm, có 02 đầu kim loại dài 02 cm và nhiều mảnh vỡ thủy tinh không rõ hình, đây là những đồ vật mà các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội vào tối ngày 26/9/2022 không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- 17 -

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kim Văn S 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trọng H1 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án (Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác).

3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Văn Kh 14 (Mười bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án (Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác).

4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Đức Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phùng M H 13 (Mười ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

6. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Trọng T 14 (Mười bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án (Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác).

7. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Hồng Q 13 (Mười ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

8. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Kim Văn K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

9. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Kim Văn M 14 (Mười bốn)

- 18 -

tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

10. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Nhật A 13 (Mười ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 26 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

11. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng Đức Ah 13 (Mười ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 26 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

12. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

13. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đăng T 14 (Mười bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

14. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Tiến H 13 (Mười ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, nH cho hưởng án treo, thời giA thử thách là 26 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Kim Văn K, Kim Văn M, Trần Nhật A, Nguyễn Hoàng Đức Ah cho UBND xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội; bị cáo Nguyễn Hoàng H cho UBND xã T Châu, huyện ĐA Phượng, T phố Hà Nội; bị cáo Nguyễn Đăng T, Nguyễn Tiến H cho UBND xã ThAh Đa, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời giA thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời giA thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

21. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu bạc đã cũ, gắn BKS: 20H3 - 6582, số máy: VDECPI150FMG002610, số khung: VDEPCG012DE 002610.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) viên gạch không rõ hình, kích thước khoảng (7x8x6) cm; 03 (ba) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội; 01(một) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội

- 19 -

được nút miệng chai bằng vải màu đen; 01 (một) chai thủy tinh in mác bia Hà Nội đáy chai bị vỡ; 01 (một) dao tự chế dài 60 cm, đã cũ, phần chuôi cầm bằng gỗ màu nâu xám dài 18 cm, lưỡi nhọn, bản rộng nhất lưỡi khoảng 03 cm; 01 (một) chiếc ba lô có 02 quai đeo lưng, màu đen đỏ, kích thước (30x40x15) cm, có in chữ Honda ThAh Tâm; 05(năm) nửa viên gạch đỏ kích thước khác nhau; 01(một) cục (pin) màu đen được quấn băng dính đen xung quAh, kích thước khoảng (5x7x2) cm, có 02 đầu kim loại dài 02 cm và nhiều mảnh vỡ thủy tinh không rõ hình.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/12/2023 giữa Công A huyện Phúc Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ).

22. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Kim Văn S, Kim Văn K, Đặng Văn Kh, Kim Văn M, Đức Văn T, Trần Nhật A, Phùng M H, Nguyễn Hoàng Đức Ah, Nguyễn Trọng T, Trần Trọng H1, Nguyễn Hoàng H, Đỗ Hồng Q, Nguyễn Đăng T và Nguyễn Tiến H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

23. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Trọng T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án . Người bào chữa cho các bị cáo dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quA đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ