vanban.org

Bản án 02/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (Hai) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ giao cho Cơ sở cai nghiện số 2, tỉnh Phú Thọ quản lý. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TAPhú Thọ, ngày 21 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - PHÚ THỌ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Lan.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai.

Ngày 21 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 13 tháng 5 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T.

Sinh ngày 12 tháng 3 năm 1993.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 7/12.

Nguyên quán: Thôn Đ, xã Đ1, tỉnh Phú Thọ.

Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ1, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ1, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án: 0. Tiền sự: 01. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 87/QĐ-XPHC ngày 20/01/2026 T bị Công an xã Đ1 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Con ông: Nguyễn Văn H, con bà: Nguyễn Thị T1.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Tấn Hồng - Cán bộ Công an xã Đ1, tỉnh Phú Thọ. (Theo văn bản cử người đại diện tham gia phiên họp ngày 19 tháng 5 năm 2026).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Lê Diệu Linh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Văn T bị Trưởng Công an xã Đ1 đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với lý do sau:

Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020 cho đến nay. Ngày 26 tháng 4 năm 2026 T bị Công an xã Đ1 phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại biên bản làm việc ngày 26 tháng 4 năm 2026 của Công an xã Đ1 và bản tường trình của T ngày 26 tháng 4 năm 2026, T thừa nhận vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25 tháng 4 năm 2026 T có mua ma túy của một người nam giới không biết tên và địa chỉ, độ tuổi khoảng 40 tuổi có đeo khẩu trang T không nhớ rõ đặc điểm của người nam giới với giá 200.000 đồng tại cổng nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã Đ1, tỉnh Phú Thọ. Sau khi mua được ma túy thì T mang về khu vực bên trong nghĩa trang sử dụng một mình, T dùng ma túy pha với nước cất rồi dùng bơm kim tiêm để chích ma túy trực tiếp vào trong cơ thể, sau khi sử dụng xong T mang bơm kim tiêm và vỏ nước cất ném xuống suối Đ thuộc xã Đ1, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 26/4/2026 T được Công an xã Đ1 phối hợp với Trạm y tế xã Đ1 mời T đến trụ sở để test ma túy trong cơ thể. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 26 tháng 4 năm 2026 tại Trạm y tế xã Đ1 xác định T dương tính với ma túy Heroine. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã Đ1 ngày 28 tháng 4 năm 2026 xác định Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy Heroin. Ngày 28 tháng 4 năm 2026 Công an xã Đ1 có Biên bản yêu cầu T trong 05 ngày làm việc T phải đến Uỷ ban nhân dân xã Đ1 đăng ký cai nghiện, thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tuy nhiên hết thời gian yêu cầu trên, T đã không đăng ký cai nghiện, T cũng không đăng ký cai nghiện tại cơ quan tổ chức nào khác.

Với hành vi vi phạm nêu trên của Nguyễn Văn T:

Trưởng Công an xã Đ1 có công văn đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T thời gian 02 (Hai) năm tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ có ý kiến tại phiên họp khẳng định việc Công an xã Đ1 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật phòng chống ma túy năm 2021, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021, Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025, T chưa đến mức bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thời hạn từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm.

Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 14 tháng 5 năm 2026 Nguyễn Văn T đồng ý đối với yêu cầu của Trưởng Công an xã Đ1 về việc đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với T và không có ý kiến gì.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy rằng:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đúng thẩm quyền, đối tượng, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy ngày 30/3/2021, khoản 1 Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 có hiệu lực từ ngày 01/02/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025.

Xét nhân thân, tính chất vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đối tượng thể hiện: Nguyễn Văn T là người đủ 18 tuổi trở lên, nghiện ma túy từ năm 2020 loại ma túy mà T sử dụng là ma túy heroin. Ngày 26 tháng 4 năm 2026 T bị Công an xã Đ1 phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã Đ1 đã yêu cầu T phải đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Đ1 trong thời hạn 05 ngày làm việc. Tuy nhiên quá thời hạn trên T vẫn không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Bản thân T cũng không đăng ký cai nghiện tại địa phương. Vì vậy cần thiết phải đưa T đi cai nghiện bắt buộc để T từ bỏ ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Về tình tiết tăng nặng: T không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi sử dụng ma túy T đã nhận thức được hành vi của mình là sai nên đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi sử dụng ma túy của mình nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện của Nguyễn Văn T đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Với hành vi vi phạm nêu trên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T như đề nghị của Trưởng Công an xã Đ1 và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ là cần thiết, có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (Hai) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ giao cho Cơ sở cai nghiện số 2, tỉnh Phú Thọ quản lý.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ có quyền kháng nghị; Trưởng Công an xã Đ1 có quyền kiến nghị quyết định này; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này, Công an xã Đ1 tổ chức thi hành Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ