vanban.org

Bản án 02/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”,

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 15-10-2025. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án tệp tin video “7121826715315.mp4”, thời lượng 39 giây và tệp tin video “7121819882401.mp4”, thời lượng 11 giây. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Q - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HS-ST.
Ngày: 15-01-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và bà Hoàng Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi, là Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan - Kiểm Sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Đắk R’Lấp, cơ sở 1, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng, đối với bị cáo:

Trần Văn Q, sinh ngày 23-7-1993 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi thường trú: Đội C, thôn T, phường P, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện tại: Thôn Đ 7, xã Q, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân C và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Trần Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15-10-2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đắk R’Lấp, cơ sở 1 - Thuộc Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lâm Đồng - Có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Bùi Tuấn T, sinh năm 2013 – Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Bùi Tuấn T: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1959 (là ông nội của anh Nguyễn Bùi Tuấn T) – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ 3, xã Q, tỉnh Lâm Đồng.

- Trường THCS T.

Địa chỉ: Thôn Đ 3, xã Q, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tấn T – Hiệu trưởng – Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Kiều Đình V, sinh năm 1970 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ 3, xã Q, tỉnh Lâm Đồng.

Người tham gia tố tụng khác: 02 chiến sỹ Phân trại tạm giam Đắk R’Lấp, cơ sở 1 - Thuộc Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lâm Đồng, tham gia tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Con trai của Trần Văn Q là Trần Duy A, học sinh lớp 6A1 Trường THCS T. Chiều ngày 08-10-2025, Trần Duy A có mâu thuẫn, đánh nhau với bạn học cùng lớp là Nguyễn Trần Bảo H. Đi học về Duy A kể cho cha mình là Q nghe. Khoảng 12 giờ ngày 09-10-2025, Trần Văn Q điều khiển xe mô tô chở Trần Duy A đi học. Theo quy định của trường, phụ huynh không được điều khiển xe vào sân trường, nhưng Q vẫn chạy xe vào, nói Duy A lên lớp xem, nếu thấy bạn Bảo H thì gọi xuống để Q hỏi lý do vì sao hôm trước đánh Duy A. Khi Duy A lên đến lớp, không thấy bạn Bảo H nhưng thấy bạn Nguyễn Bùi Tấn T đang ngồi tại bàn học của mình, T hỏi Duy A: “tại sao lại đánh H”, Duy A trả lời: “do Hg đánh trước nên Duy A đánh lại”. Nghe vậy, T ra khỏi bàn học, dùng tay đẩy làm đầu Duy A đập vào tường. Bị đau, Duy A chạy ra hành lang lớp học khóc, Q nghe tiếng khóc của con chạy lên hỏi, Duy A trả lời bị đánh và chỉ tay về phía bạn T. Q đi tới hỏi T tại sao đánh Duy A, T trả lời: “cháu không đánh”. Do bực tức, Q nắm cổ áo, chửi tục, kéo T ra phía cửa sổ ngay giữa hành lang lớp 6A1, dùng tay tát một cái trúng vào trán của T và tiếp tục chửi tục nhiều lần với lời lẽ hăm dọa, to tiếng, đồng thời dùng chân đá vào người T. Lúc này T đã xin lỗi và liên tục nói “để cháu giải thích” nhưng Q không nghe mà tiếp tục đẩy T vào góc tường trước cửa phòng học. T lúc này trong tư thế khụy 1 đầu gối chân, vừa chỉ tay về phía Duy A hỏi: “có phải bạn đánh bạn H đúng không” thì Duy A trả lời “do H đánh trước”. Nghe con nói, Q tiếp tục có lời lẽ đe dọa, chửi bới T. Do nghe to tiếng, ồn ào nên học sinh tụ tập đông để xem, bảo vệ nhà trường đi lên lớp 6A1, yêu cầu Q dừng việc gây rối và ra ngoài khuôn viên trường. Thời điểm xảy ra vụ việc chuẩn bị vào tiết 1 buổi chiều nên có khoảng hơn 50 học sinh chứng kiến, có học sinh đã dùng điện thoại quay lại sự việc, phát lên mạng xã hội. Chú ruột của T xem được, viết đơn trình báo yêu cầu cơ quan Công an xử lý.

Ngay sau khi Q gây rối trật tự trước lớp học 6A1, nhiều học sinh trong tình trạng lo sợ, hoang mang nên tiết 1 buổi chiều ngày 09-10-2025 một số lớp học đã phải dừng việc giảng dạy để các thầy cô ổn định tâm lý cho các em.

Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng và Trạm Y tế xã Q đã tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với các em Nguyễn Bùi Tuấn T, Trần Duy A và Nguyễn Trần Bảo H, kết quả không phát hiện thương tích. Gia đình của Nguyễn Bùi Tuấn T có đơn từ chối giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 1109/KL-KTHS ngày 24-10-2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận về đối tượng giám định là tệp tin video “7121826715315.mp4”, thời lượng 39 giây và tệp tin video “7121819882401.mp4”, thời lượng 11 giây không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa.

Cáo trạng số 08/CT-VKS-KV7 ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng để xét xử bị cáo Trần Văn Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Văn Q khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng với hành vi bị cáo thực hiện và không bào chữa gì.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 03 tháng tù đến 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về xử lý vật chứng: Đối với tệp tin video “7121826715315.mp4”, thời lượng 39 giây và tệp tin video “7121819882401.mp4”, thời lượng 11 giây là tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tiếp tục lưu theo hồ sơ.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bùi Tuấn T số tiền 5.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy ăn năn, hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Nghe con ruột nói bị bạn học đánh, lẽ ra với vai trò là phụ huynh, Trần Văn Q cần bình tĩnh làm rõ nguyên nhân nhưng từ khoảng 12 giờ 25 phút đến 12 giờ 35 phút ngày 09-10-2025, Trần Văn Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi vi phạm quy tắc ứng xử nơi công cộng, gây rối trật tự trước phòng học lớp 6A1, Trường THCS T trên địa bàn Thôn Đ 3, xã Q, tỉnh Lâm Đồng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của trường học, gây hoang mang, lo lắng cho nhiều học sinh có mặt tại trường, làm xáo trộn hoạt động dạy và học tiết 1 buổi chiều của một số lớp thuộc Trường THCS T. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình làm xâm phạm trật tự công cộng, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của nhiều học sinh nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Trần Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn, hối cải; đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 5.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về quyết định hình phạt: Xét hành vi của bị cáo đã gây ra tâm lý hoang mang, lo sợ cho nhiều em học sinh còn nhỏ tuổi, gây ra hệ lụy xấu. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã nhận thức được lỗi lầm, việc phạm tội có phần xuất phát từ bức xúc con mình bị bạn đánh, giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Đối với tệp tin video “7121826715315.mp4”, thời lượng 39 giây và tệp tin video “7121819882401.mp4”, thời lượng 11 giây là tài liệu góp phần chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bùi Tuấn T số tiền 5.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Bùi Tuấn T và người đại diện theo pháp luật của Trường THCS T không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường xong.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Trần Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”,

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 15-10-2025.

Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác, với lý do thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam.

2. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án tệp tin video “7121826715315.mp4”, thời lượng 39 giây và tệp tin video “7121819882401.mp4”, thời lượng 11 giây.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

Cỡ chữ