vanban.org

Bản án 02/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Chương Văn C 03 (ba) năm tù.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Chương Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chương Văn C phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Chương Văn C 03 (ba) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HS-ST
Ngày: 14-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Hoàng;

2. Bà Đinh Thị Phúc.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Tuấn; Kiểm sát viên.

Ngày 14/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2025/HSST ngày 02/12/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-HS ngày 31/12/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Chương Văn C, sinh ngày: 02/10/1989; nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số 38 Trần Quốc T, thôn 06, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Làm nông; cha: Chương Pắc D; mẹ: Đàm Thị P; vợ, con: Chưa có;

- Tiền án:

+ Tại Bản án số 16/2015/HS-ST ngày 22/04/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 08 năm tù về tội: “Giết người”. Bị cáo chấp hành xong ngày 25/01/2019.

+ Tại Bản án số 69/2019/HS-ST ngày 17/12/2019, bị Tòa án nhân dân huyện DD, tỉnh Lâm Đồng (cũ) xử phạt 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong ngày 26/01/2022.

+ Tại Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 bị Tòa án nhân dân huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo chấp hành xong ngày 07/05/2024.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án số 84/2008/HS-ST ngày 25/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng (cũ) xử phạt 12 tù cho hưởng án treo về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 16 tháng.

+ Tại Quyết định đưa vào Cơ sơ giáo dục số 24/QĐ-UB ngày 05/01/2011 bị UBND tỉnh Lâm Đồng đưa đi Trung tâm giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong ngày 10/10/2012.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPHC ngày 31/10/2025 bị Công an xã DT, tỉnh Lâm Đồng xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã nộp phạt ngày 12/01/2026.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/09/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam ĐT thuộc Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 2003; Hộ khẩu thường trú: Ấp NT, xã TĐ, thành phố CT; Nơi ở hiện tại: 774 QL 20, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Đặng Đăng K, sinh năm 2000; Hộ khẩu thường trú: Số 09/22 thôn PT, xã HT, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

2. Nguyễn Hoàng E, sinh năm 2003; Hộ khẩu thường trú: Thôn YT, xã TP, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/05/2025, Chương Văn C cùng với 02 người bạn mới quen ngoài xã hội (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đi hát Karaoke tại phòng số 06 quán Karaoke TT, địa chỉ: Đường LTT, thôn 26, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng. Một lúc sau thì có 02 người bạn của C là Huỳnh Thị Kim L, sinh năm: 2003, HKTT: Ấp NT, xã TĐ, thành phố CT và Yìu Ửng M, sinh năm: 1992, HKTT: xã PV, tỉnh Đồng Nai đến hát Karaoke cùng.

Khoảng 30 phút sau, C thấy L đứng dậy hát và có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đen ở trên ghế ngồi nên C nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này, C thấy L đang hát và uống bia cùng với mọi người nên C đã đi đến tiếp cận và lấy trộm điện thoại của L bỏ vào trong túi quần của mình rồi quay về lại chỗ ngồi tiếp tục uống bia cùng mọi người trong phòng.

Một lúc sau, C đi về trước. C một mình điều khiển 01 xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển kiểm soát) mang điện thoại mới trộm được đến cửa hàng điện thoại HP, địa chỉ: Số 07 PNL, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng gặp ông Đặng Đăng K, sinh năm : 2000, HKTT: Số 09/22 thôn PT, xã HT, tỉnh Lâm Đồng và ông Nguyễn Hoàng E, sinh năm: 2003, HKTT: Thôn Yên T, xã TP, tỉnh Thanh Hóa, là nhân viên của quán để thuê mở khóa điện thoại. Do nghi ngờ chiếc điện thoại trên là tài sản trộm cắp nên K và E không đồng ý mở khóa thì C bực tức và buông lời chửi bới rồi dùng tay cầm chiếc điện thoại trên ném xuống nền quán khiến cho chiếc điện thoại bị bể vỡ. Sau đó, C ra lấy xe đi về nhà và bỏ lại chiếc điện thoại trên tại tiệm điện thoại HP.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 03/06/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện ĐT xác định giá trị của chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đen, dung lượng 128GB tại thời điểm bị chiếm đoạt là 8.413.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSKV2 ngày 25/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Chương Văn C về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Chương Văn C từ 03 năm đến 04 năm tù.

Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng quy kết. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo Chương Văn C tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai bị hại, kết luận định giá tài sản; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Chương C đang có tiền án, chưa được xóa án tích; vào ngày 18/5/2025 tại phòng số 06 quán Karaoke TT, địa chỉ đường LTT, thôn 26, xã ĐT, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Chương Văn C lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đen, dung lượng 128GB trị giá 8.413.000 đồng của bà Huỳnh Thị Kim L, hành vi của bị cáo phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Xét tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản của chủ sở hữu thực hiện trộm cắp, thể hiện tính liều lĩnh, coi thường pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 8.413.000 đồng cho bị hại bà Huỳnh Thị Kim L, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.

Về quyết định hình phạt: Tình hình trộm cắp xảy ra tại địa phương ngày càng tăng, gây hoang mang trong nhân dân. Bị cáo Chương Văn C có nhân thân xấu đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi phạm tội chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo Chương Văn C mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này.

Về xử lý vật chứng:

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đen, dung lượng 128GB, tình trạng bể vỡ, hư hỏng và không sử dụng được. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà L là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Huỳnh Thị Kim L đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 8.413.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì về mặt dân sự nên không đề cập đến.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Chương Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Chương Văn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11/9/2025.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Chương Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ