vanban.org

Bản án 02/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Tấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017, 2025: Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng các tình tiết tăng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Tấn D - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Tấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HS-ST
Ngày: 16-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương;

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST – HS ngày 08/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/HSST-QĐ, ngày 18/12/2025, đối với bị cáo:

Ngô Tấn D, sinh ngày 17 tháng 10 năm 1990 tại tỉnh Quảng Ngãi. Căn cước công dân số 051090009329; nơi thường trú: Xóm K, thôn M, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã T, tỉnh Quảng Ngãi); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 22/6/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi) xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và tổng hợp hình phạt với Bản án số 07/2018/HS-ST ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi), buộc phải chấp hành chung hai bản án là 02 năm tù. Ngày 12/9/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích). Nhân thân: Ngày 18/12/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/8/2013, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm (đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giam ngày 21/5/2025; có mặt.

- Bị hại: Bà Lê Thị N, sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi); địa chỉ tạm trú: Số G, đường T, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi); địa chỉ tạm trú: Số G, đường T, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; địa chỉ thường trú: Xóm K, thôn M, xã T, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 03/2020, Ngô Tấn D đến quán C, địa chỉ số G, đường T, khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) do bà Lê Thị N, sinh năm 1995, thường trú tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi) làm chủ để học việc nấu ăn, D được bà N thuê phòng trọ để ở và không trả lương.

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/4/2020, bà Lê Thị N cùng chồng là ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1989, thường trú tại thôn A, xã B, tỉnh Quảng Ngãi đi chợ mua đồ, lúc này tại quán C chỉ có Ngô Tấn D và Lê Văn V, sinh năm 1998, thường trú tại xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi) là em ruột của bà N trông coi quán, lợi dụng lúc V đang nằm võng không để ý nên Ngô Tấn D lén lút vào phòng kho chứa đồ của quán lục tìm tài sản lấy trộm vì trước đó D thấy bà N có để giỏ xách đồ trong phòng. Khi vào phòng kho chứa đồ của quán, D đi lại đầu giường mở giỏ xách đồ, bên trong giỏ xách có túi da màu đỏ, D mở ra lấy trộm 03 xấp tiền, trị giá 140.000.000 đồng được để trong bịch ni lông màu đen nhét vào trong quần ngay trước bụng và lấy áo che lại rồi đi ra ngoài đến nhà vệ sinh phía sau quán để lấy giấy chứng minh nhân dân của D để trong túi quần mà D để trước đó rồi đi ra khỏi quán, để tránh cho V nghi ngờ khi đi D nói với V là đi uống cà phê nhưng thực tế là D đi đến tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng) lẩn trốn và tiêu xài cá nhân hết số tiền lấy trộm.

Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày 28/4/2020, bà N và ông T1 đi chợ về, khi bà N đi vào phòng kho chứa đồ thì phát hiện giỏ xách đồ của bà N để trên đầu giường bị mở khóa nên kiểm tra thì phát hiện bịch ni lông màu đen bên trong có đựng số tiền 140.000.000 đồng bị mất, đồng thời bà N không thấy D ở quán nên điện thoại thì bị D chặn liên lạc nên bà N đã đến Công an phường P, Thành phố T, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc. Sau đó, Công an phường P chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.

Đến ngày 21/5/2025, Ngô Tấn D nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

* Về xử lý vật chứng: Không

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/9/2025, bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963, thường trú tại xã T, tỉnh Quảng Ngãi là mẹ ruột của Ngô Tấn D đã bồi thường cho bà N số tiền 140.000.000 đồng, bà N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Ngô Tấn D.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSKV15 ngày 10/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ngô Tấn D để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017, 2025. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017, 2025; xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/9/2025, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị L đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền là 140.000.000 đồng, bằng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại. Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường lại, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không.

Bị hại thống nhất với đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, hình phạt, không tranh luận gì them; đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Tấn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại. Do đó có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/4/2020, tại quán C; địa chỉ số G, đường T, khu phố B, phường P, Thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) Ngô Tấn D đã lén lút vào phòng kho chứa đồ của quán mở túi xách lấy trộm của bà Lê Thị N số tiền 140.000.000 đồng.

Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Ngô Tấn D để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Về nhận thức, bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích cá nhân, nên bị cáo đã thực hiện; do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ; hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Ngày 18/12/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/8/2013, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm (đã được xóa án tích).

tiền án: Ngày 22/6/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi) xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và tổng hợp hình phạt với Bản án số 07/2018/HS-ST ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi), buộc phải chấp hành chung hai bản án là 02 năm tù. Ngày 12/9/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt. Bị cáo chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc tình tiết tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Tấn D đã đồng ý để mẹ bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền đã lấy của bị hại là 140.000.000 đồng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội đã ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51, 52 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên đề nghị của Viện Kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị L đã bồi thường cho bị hại số tiền là 140.000.000 đồng, bằng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì khác, nên không đề nghị giải quyết.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Tấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017, 2025: Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51, 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Tấn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2025.

3. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Ngô Tấn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ