vanban.org

Bản án 02/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trí Hà M và ông Nguyễn Kiến C thuận tình ly hôn. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Trí Hà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hà An C1, sinh ngày 30/8/2020. Ông Nguyến Kiến C2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Trí Hà M - Nguyễn Kiến C"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 01 - 2026
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Khánh

Bà Nguyễn Lê Anh Thư

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 164/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trí Hà M, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B đường L, phường P, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Kiến C, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số C đường N, phường P, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Trí Hà M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Kiến C tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, đã tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2019. Sau đó, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 14 tháng 5 năm 2019.

Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại nhà cha mẹ bà. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng vẫn hạnh phúc cho đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, chồng thường xuyên ăn nhậu đến khuya mới về nhà không quan tâm đến vợ con, lúc say xỉn thì có những lời nói và hành động xúc phạm đến danh dự của bà, điều này dẫn đến sự thiếu tôn trọng nhau trong hôn nhân. Về kinh tế, ông C không hỗ trợ và chia sẻ trách nhiệm với bà. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ, hàn gắn nhưng ông C vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, cả hai không tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay, vợ chồng bà không còn sống chung với nhau, đã ly thân từ tháng 4/2025 đến nay, ông C đã về nhà mẹ đẻ tại số C N, phường P, tỉnh Khánh Hòa để sinh sống. Trong thời gian không sống chung, bà và ông C không gặp nhau. Nay tình cảm vợ chồng đã hết nên bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Kiến C.

- Về con chung: Bà và ông Nguyễn Kiến C có 01 con chung tên Nguyễn Hà An C1, sinh ngày 30/8/2020. Tại đơn khởi kiện bà có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Nguyễn Kiến C cấp dưỡng nuôi con với mức 5.000.000 đồng/tháng. Nay bà vẫn giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C1 nhưng không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay ông C không có nghề nghiệp gì và cũng đang bị thương tật.

Hiện nay, bà đang kinh doanh, buôn bán thu nhập bình quân 5.000.000 đồng/tháng đủ điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Nguyễn Kiến C không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 25/12/2025, bị đơn ông Nguyễn Kiến C trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Trí Hà M, chung sống với nhau vào tháng 7/2019, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T vào ngày 14/5/2019.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình bên vợ. Qúa trình sống chung ban đầu hạnh phúc đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn do không còn tiếng nói chung, công việc khó khăn nên vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Cụ thể về tài chính, nợ nần gây ra nên quyết định ly hôn. Khoảng từ tháng 9/2025 đến nay vợ chồng ông đã sống ly thân, hiện nay ông đang ở nhà mẹ tại số C đường N, phường P, tỉnh Khánh Hòa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà M có đơn ly hôn thì ông đồng ý với quyết định của bà M.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông và bà M có 01 con chung tên Nguyễn Hà An C1, sinh ngày 30/8/2020. Khi ly hôn, ông đồng ý cho bà M được trực tiếp nuôi cháu C1. Về yêu cầu cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng thì ông không đồng ý, do hiện nay ông thất nghiệp và có thương tật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Trí Hà M và ông Nguyễn Kiến C.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao con chung tên Nguyễn Hà An C1, sinh ngày 30/8/2020 cho bà Nguyễn Trí Hà M tiếp tục nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Nguyễn Trí Hà M không yêu cầu nên không xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Trí Hà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Kiến C. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường P, tỉnh Khánh Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.

Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Nguyễn Trí Hà M có bản khai xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Kiến C có bản khai trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện và xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Về yêu cầu xin ly hôn: Xét cuộc hôn nhân giữa bà Nguyễn Trí Hà M và ông Nguyễn Kiến Chung kết H trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 14/5/2019, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chuẩn bị xét xử bà M và ông C đều khẳng định cuộc sống hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà M và ông C đồng ý ly hôn.

Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Trí Hà M và ông Nguyễn Kiến C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hà An C1, sinh ngày 30/8/2020. Hiện nay cháu C1 đang sống cùng bà M. Khi ly hôn, ông C đồng ý giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông không phải cấp dưỡng. Bà M đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hà An C1 và không yêu cầu ông C cấp dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bà M và ông C về việc nuôi con, giao cháu Nguyễn Hà An C1, sinh ngày 30/8/2020 cho bà Nguyễn Trí Hà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Kiến C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung và nợ chung: Bà M, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Trí Hà M tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.

Căn cứ vào Điều 51, 53, 55, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 6, 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trí Hà M và ông Nguyễn Kiến C thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Trí Hà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hà An C1, sinh ngày 30/8/2020. Ông Nguyến Kiến C2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí:

Bà Nguyễn Trí Hà M tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002027 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. H1 lại cho bà Nguyễn Trí Hà M 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền chênh lệch.

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ