- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Thúy - Nguyễn Văn Công"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2026/HNGĐ-ST Ngày 19 - 01 - 2026 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Vị
Bà Trần Thị Kim Khuyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/12/2025 và ngày 19/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 70/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn H, xã L, tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh C: Ông Lê Văn D - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 02 tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 8 năm 2025 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau ngày 01/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Phú Thọ). Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và việc đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh C tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ) khoảng 10 năm. Sau đó anh C có mâu thuẫn với mẹ đẻ nên vợ chồng anh chị chuyển ra ngoài thuê trọ từ năm 2020 và từ đó vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị và anh C thường xuyên cãi vã, anh C thỉnh thoảng có hành vi bạo lực gia đình đối với chị. Đến khoảng năm 2021, anh C bị bắt và bị Tòa án ở Lạng Sơn xử phạt khoảng 02 năm 06 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm” (pháo), sau đó anh C đi chấp hành án tại Trại giam H1 ở Hải Dương. Sau khi anh C chấp hành án xong trở về địa phương thì anh C đi làm xa ở Sơn La. Đến cuối năm 2024 thì anh C bị tai biến, gia đình phải đưa đi chữa trị và đến đầu năm 2025 anh C về ở cùng bố mẹ đẻ. Chị và anh C đã sống ly thân từ khoảng đầu năm 2025 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Nguyễn Công H, sinh ngày 14/02/2011 và Nguyễn Phương T1, sinh ngày 29/10/2015 (hiện cả 02 cháu đều đang ở cùng chị). Ly hôn chị xin nuôi cả hai cháu Nguyễn Công H, sinh ngày 14/02/2011 và Nguyễn Phương T1, sinh ngày 29/10/2015, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, vay nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình giải quyết vụ án, anh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án cùng bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn cung cấp; các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh C nhưng anh C đều không đến Tòa làm việc. Tòa án không thể tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn C là ông Lê Văn D trình bày: Theo Quyết định số 1069/QĐ-UBND ngày 15/5/2025 của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc về việc trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng cho đối tượng bảo trợ xã hội người khuyết tật, anh Nguyễn Văn C là đối tượng khuyết tật đặc biệt nặng thể vận động được hưởng trợ cấp xã hội về người khuyết tật kể từ tháng 5 năm 2025 với mức hưởng trợ cấp xã hội là 1.000.000 đồng/01 tháng. Quá trình giải quyết vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn C đã giải thích và làm việc với anh C, quan điểm của anh C về tình cảm mong muốn vợ chồng đoàn tụ, trường hợp chị T vẫn cương quyết xin ly hôn thì anh C đồng ý. Về con chung: Anh C đề nghị chị T nuôi các con vì hiện nay anh đang sống vào tiền trợ cấp xã hội người khuyết tật và sống phụ thuộc vào bố mẹ anh, mọi chi phí sinh hoạt hàng ngày đều do bố mẹ anh C chi trả. Vì vậy, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn C đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về kiểm sát tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng chị T đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh C là bị đơn không chấp hành đầy đủ, vắng mặt tại phiên tòa.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Giao cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Công H, sinh ngày 14/02/2011 và Nguyễn Phương T1, sinh ngày 29/10/2015 (hiện cả 02 cháu đều đang ở cùng chị); anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về chia tài sản các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Phan Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và phân chia nuôi con chung giữa chị và anh Nguyễn Văn C. Bị đơn anh C hiện có hộ khẩu và cư trú tại thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính; Luật tư pháp và người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ và quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
[2] Về tố tụng: Đối với anh Nguyễn Văn C quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Tại phiên tòa, anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C.
[3] Bị đơn anh Nguyễn Văn C là đối tượng khuyết tật, dạng khuyết tật vận động, mức độ khuyết tật đặc biệt nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội về người khuyết tật trên địa bàn xã L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích, hướng dẫn cho nguyên đơn chị T, bố mẹ của anh C là ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị Đ, Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi xã L để chị T, ông X, bà Đ, Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi xã L thực hiện quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định và tuyên bố anh C mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Tuy nhiên, sau khi được giải thích, hướng dẫn chị T, ông X, bà Đ và Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi xã L không yêu cầu và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Do các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[4] Về hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Văn C đăng ký kết hôn ngày 01/4/2010, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Phú Thọ). Trước khi kết hôn, chị T và anh C được tự do tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện, tiến bộ vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C là tự nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Xem xét hôn nhân giữa chị T và anh C thấy rằng cuộc sống chung vợ chồng giữa chị T và anh C có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân như chị T trình bày vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị và anh C thường xuyên cãi vã, anh C thỉnh thoảng có hành vi bạo lực gia đình đối với chị. Khoảng năm 2021, anh C bị Tòa án ở Lạng Sơn xử phạt khoảng 02 năm 06 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm” (pháo), sau đó anh C đi chấp hành án ở Trại giam H1 - Hải Dương. Sau khi anh C chấp hành án xong trở về địa phương thì anh C đi làm xa ở Sơn La. Đến cuối năm 2024, anh C bị tai biến, gia đình phải đưa đi chữa trị và đến đầu năm 2025 anh C về ở cùng bố mẹ đẻ. Chị và anh C đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2025 đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành lấy lời khai của bố mẹ anh C là ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị Đ. Ông X, bà Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T và anh C được ly hôn. Về nuôi con chung của anh C, chị T: Ông X, bà Đ đề nghị chị T phải có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con. Về tài sản: Do chị T nuôi hai con nên gia đình ông X, bà Đ không có bất cứ yêu cầu gì.
Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị T xin ly hôn anh C là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình do đó cần được chấp nhận.
[5] Về nuôi con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự và giấy khai sinh thì vợ chồng chị T, anh C có 02 con chung là Nguyễn Công H, sinh ngày 14/02/2011 và Nguyễn Phương T1, sinh ngày 29/10/2015 (hiện cả 02 cháu đều đang ở cùng chị T). Ly hôn chị T xin được nuôi cả hai cháu Nguyễn Công H, sinh ngày 14/02/2011 và Nguyễn Phương T1, sinh ngày 29/10/2015 và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của cháu H và cháu T1. Xét thấy chị T hiện có chỗ ở, công việc ổn định, thu nhập bình quân là 11.000.000 đồng/01 tháng do đó cần giao cháu H và cháu T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.
[6] Về chia tài sản, công nợ, công sức: Do đương sự không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét. Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có đề nghị về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Công H, sinh ngày 14/02/2011 và Nguyễn Phương T1, sinh ngày 29/10/2015 (hiện cả hai cháu đều đang ở cùng chị T) cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0003576 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Thi hành dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 11 - Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - - UBND xã Liên Hòa, tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Thu Trang |