- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn H; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 25-11-2025 của Toà án nhân dân khu vực 2-Lào Cai, như sau:
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2026/HNGĐ-PT Ngày: 04-3-2026 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Ngọc Phương
Bà Hoàng Hải Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Quyên- Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Bà Nguyễn Thị Thu Hà-Kiểm sát viên tham gia phiên toà
Ngày 04 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2025/TLPT-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025 về việc: Ly hôn, nuôi con chung
Do bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2- Lào Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2026/QĐ-PT, ngày 06 tháng 01 năm 2026 và quyết định hoãn phiên toà số: 01/2026/QĐ - PT, ngày 06 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Vân L- SN 17/04/2000
Căn cước số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 17/03/2025
Địa chỉ: Tổ 3, phường Văn P, tỉnh Lào Cai (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn H-SN 11/05/1997
Căn cước số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 17/08/2022
Địa chỉ: Thôn 2, xã Yên Bình, tỉnh Lào Cai (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án sơ thẩm và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Phạm Thị Vân L và ông Phạm Văn H kết hôn với nhau vào ngày 10-11-2022 tại Uỷ ban nhân dân phường Yên T, thành phố Yên B, tỉnh Yên Bái (nay là phường Văn P, tỉnh Lào Cai). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10-2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về chăm sóc con chung, mỗi người một ý, hai bên không có tiếng nói chung, mặc dù đã tự hoà giải nhiều lần, nhưng không được. Mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng nên bà L đã trở về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7-2025 cho đến nay. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn ông Phạm Văn H, ông Phạm Văn H cho rằng tình cảm vợ chồng có thể khắc phục về đoàn tụ, không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Bà Phạm Thị Vân L và ông Phạm Văn H có 01 con chung là Phạm Văn T, sinh ngày 16-9-2023, vì hiện nay cháu T còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng cuộc sống chung căng thẳng, nên bà L đã xin phép mẹ chồng về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Sau khi về nhà mẹ đẻ, bà L thường xuyên về thăm nom cháu T, nhiều khi ông H còn ngăn cản không cho gặp nên bà L phải đến trường học để gặp con. Hiện nay cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, mặt khác, bà L có đủ điều kiện nuôi con, hiện bà L làm công nhân cho Hợp tác xã sản xuất và thương mại Vinh N và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm nhà ở, còn ông H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con do ông H cũng có việc làm ở hộ kinh doanh cá nhân, thu nhập được 15.000.000 đồng/tháng và có chỗ ở, còn bà L chưa có nhà ở, hiện nay cháu T đang ở cùng ông H và nhà nội, để đảm bảo quyền và lợi ích cho cháu nên ông H đề nghị Toà án áp dụng án lệ số 54/2022/AL giao con cho ông trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 25-11-2025 của Toà án nhân dân khu vực 2-Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Vân L được ly hôn ông Phạm Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Phạm Văn T, sinh ngày 16-9-2023 cho bà Phạm Thị Vân L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Ông Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, tuyên quyền kháng cáo và giải thích thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/12/2025, ông Phạm Văn H kháng cáo Bản án sơ thẩm về việc không đồng ý ly hôn và nuôi con chung, ông đề nghị vợ chồng trở về đoàn tụ cùng nhau nuôi dậy con và nếu phải ly hôn thì ông đề nghị được áp dụng án lệ số 54/2022/AL để được nuôi con và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự có mặt, bà L đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm, ông H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, các thành viên khác trong Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình chuẩn bị xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định và hợp lệ.
Về nội dung: Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Ông Phạm Văn H phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Toà án nhân dân khu vực 2-Lào Cai đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, giải quyết đúng theo thẩm quyền xét xử.
Xét yêu cầu của kháng cáo của ông Phạm Văn H:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn H đề nghị vợ chồng trở về đoàn tụ nuôi dậy con, trong khi đó bà Phạm Thị Vân L kiên quyết xin được ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, trong cuộc sống vợ chồng đã không có sự tôn trọng nhau nên cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn, ông H muốn trở về đoàn tụ nhưng lại không có biện pháp cụ thể nào để khắc phục tình cảm vợ chồng, sau khi hai vợ chồng ông bà ly thân, bà L trở về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, ông H cũng không có biện pháp tích cực nào để bà L quay trở về chung sống, do đó Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên bà L được ly hôn ông H là có cơ sở, do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông H.
Xét yêu cầu của ông H đề nghị Toà án áp dụng án lệ số 54/2022/AL để ông H được nuôi con, trong khi đó cháu Phạm Văn T (sinh ngày 16/9/2023) chưa được 36 tháng tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện.
Việc bà L không được trực tiếp nuôi dưỡng con không phải là từ bỏ con, không có trách nhiệm với con, mà sau khi rời khỏi nhà chồng, bà L vẫn duy trì việc thăm nom, quan tâm đến con, không thăm con được ở nhà chồng thì bà L đã đến trường học để thăm nom, chăm sóc con, điều đó thể hiện rõ trách nhiệm và tình cảm của người mẹ. Mặt khác hiện bà L vẫn đang đi làm, có thu nhập, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện để được nuôi dưỡng con, vì vậy Toà án cấp sơ thẩm đã giao con cho bà L được nuôi dưỡng con là phù hợp, có cơ sở, nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo được nuôi dưỡng con của ông H.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn H, cần giữ nguyên toàn bộ Bản án sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 25-11-2025 của Toà án nhân dân khu vực 2- Lào Cai.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phạm Văn H phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 57, điều 81, điều 82, điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn H; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 25-11-2025 của Toà án nhân dân khu vực 2-Lào Cai, như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Vân L được ly hôn ông Phạm Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Phạm Văn T, sinh ngày 16-9-2023 cho bà Phạm Thị Vân L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Ông Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0002274 ngày 15-12-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai (ông H đã nộp đủ).
4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hời hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT3-TAND Tối cao; - VKSND Tối cao; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai; - UBND phường Văn P, Lào Cai; - Các đương sự; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Hùng |