vanban.org

Bản án 02/2025/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 16/09/2025 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Bá P

Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13-An Giang: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá P yêu cầu Hủy Quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc theo Quyết định số 21/QĐ-B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Tranh chấp quyết định xử lý kỷ luật giữa ông Phước với BQT Lăng miếu"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Bá P
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/LĐ-PT
Ngày: 16-9-2025
V/v “Tranh chấp Quyết định xử lý
kỷ luật buộc thôi việc và bổi thường
thiệt hại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Hai và bà Đào Nữ Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Phan Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Phạm Hoàng Lưu

- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 02/2025/TLPT-LĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025, về việc: “Tranh chấp Quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc và bồi thường thiệt hại”.

Do, Bản án lao động sơ thẩm số: 01/2025/LĐ-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2025/QĐXXPT-LĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá P, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, khóm V, phường V (trước là phường N, thành phố C), tỉnh An Giang. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Đặng Văn K, Luật sư Văn phòng Luật sư Đặng Văn K - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: Số B, đường số A, tổ F, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ban Q1

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phúc H, chức vụ: Trưởng Ban

Trụ sở: Khóm V, phường V (trước là Phường N, thành phố C), tỉnh An Giang.

+ Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Võ Thành Q, sinh năm 1970 - Chức vụ Đội trưởng Đội Bảo vệ Ban Q1; nơi cư trú: Tổ D, ấp B, phường V (trước là xã V, thành phố C), tỉnh An Giang (Có mặt)

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Bá P

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Bá P trình bày: Ông tên thường gọi là N có ký kết Hợp đồng lao động với Ban Q1 (Hợp đồng lao động số 25/HĐ2011 ngày 15/02/2011), chức danh chuyên môn: nhân viên bảo vệ, hợp đồng không xác định thời hạn.

Ngày 20/02/2024, khi đang thực hiện nhiệm vụ thì có bà Trần Thị Hải V đến gặp và nhờ gửi tiền lì xì tết cho ông Thái N1 T là Tổ phó tổ Chánh Điện số tiền 1.000.000 đồng và lì xì cho ông 500.000 đồng. Sau khi nhận tiền lì xì, ông có gọi điện thoại cho ông T biết việc bà V có gửi tiền lì xì tết nhưng ông T không bắt máy. Sau đó ông thực hiện nhiệm vụ bình thường, ngày 21/02/2024 ông đã chuyển trả số tiền trên cho bà V bằng hình thức chuyển khoản thông qua tài khoản Ngân hàng.

Sau khi sự việc xảy ra, Ban Quản trị Lăng Miếu Núi Sam yêu cầu ông P tạm ngưng công tác. Đến ngày 14/6/2024, Ban Quản trị gửi cho ông Thông báo về việc hình thức xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc. Ngày 15/7/2024, Ban Q1 ban hành Quyết định số 21/QĐ-BQT về việc xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với ông kể từ ngày 15/7/2024.

Việc xử lý kỷ luật không tuân thủ đúng quy định, cụ thể: không ban hành Quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật; không gửi giấy báo triệu tập trước 07 ngày; không cho người bị kỷ luật viết bản kiểm điểm, hồ sơ kỷ luật thiếu bản kiểm điểm của người bị kỷ luật; không thực hiện đúng trình tự họp Hội đồng kỷ luật, cuộc họp không tuân thủ quy định.

Do đó, ông P yêu cầu Tòa án:

- Hủy Quyết định số 21/QĐ-BQT ngày 15/7/2024 của Ban Q1 về việc xử lý kỷ luật nhân viên.

- Buộc Ban Quản trị Lăng miếu Núi Sam nhận ông vào làm việc và bồi thường tiền lương số tiền 8.145.000đ/tháng từ ngày 15/7/2024 đến ngày xét xử.

* Bị đơn do ông Võ Thành Q là người đại diện theo ủy quyền có ý kiến trình bày:

Ban Q1 (gọi tắt là Ban Q1) có ký kết hợp đồng lao động với ông Nguyễn Bá P (Hợp đồng lao động số 25/HĐ2011 ngày 15/02/2011), chức danh chuyên môn: nhân viên bảo vệ, hợp đồng không xác định thời hạn. Trong hợp đồng ghi rõ phải chấp hành đúng nội quy cơ quan.

Ban Quản trị đã ban hành Quyết định số 06/QĐ.BQT ngày 10/4/2022 (Gọi tắt QĐ 06), Tại Điều 27 Nội quy cơ quan quy định: Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp nhận quà biếu, tiền, hiện vật và bất cứ tài sản gì khi chưa có ý kiến của lãnh đạo Ban Q1. Quyết định số 06 kèm Nội quy đã được gửi cho Sở Lao động Thương Binh và Xã hội tỉnh A, có hiệu lực thi hành.

Ngày 21/02/2024, Ban Quản Trị nhận được trình bày của ông Thái Nhật T, nhân viên trực Ban, về hành vi vi phạm nội quy lao động trong khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ của ông Nguyễn Bá P.

Ngày 25/02/2024, Ban Quản T1 tiếp nhận Đơn tường trình của ông Nguyễn Bá P về việc có nhận tiền lì xì của bà Trần Thị Hải V 500.000 đồng và nhận dùm ông Thái Nhật T 1.000.000 đồng. Ông P gọi ông T không bắt máy nên ngày 21/02/2024 ông P điện thoại bà V xin số tài khoản và trả lại 1.500.000 đồng.

Ngày 05/03/2024, Ban Quản Trị ban hành Quyết định số 12/QĐ-BQT ngày 05/03/2024 về việc thành lập Hội đồng xử lý kỷ luật cán bộ, nhân viên Ban Q1. Họp thứ 1 ngày 26/03/2024; họp thứ 2 ngày 04/04/2024, Hội đồng tổ chức họp thống nhất động viên ông P làm đơn xin nghỉ việc do gia cảnh để hưởng chế độ.

Ngày 17/04/2024, Ban Quản Trị ban hành Thông báo số 66/TB-BQT về việc giao ông Võ Thành Q - Đội trưởng Đội Bảo vệ Ban Quản Trị làm việc với ông P. Đội Bảo vệ đã mời ông P làm việc nhưng ông P vắng mặt, lập Biên bản ngày 18/04/2024 về việc mời đồng chí Nguyễn Bá P lên làm việc về việc vi phạm của đồng chí.

Ngày 08/05/2024, thành viên Hội đồng đã có buổi làm việc với ông P để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của ông để Hội đồng xem xét, giải quyết nhưng ông không có bất cứ ý kiến trình bày nào tại buổi làm việc.

Lần họp thứ 3 ngày 17/05/2024, Hội đồng tổ chức họp bỏ phiếu hình thức xử lý kỷ luật đối với trường hợp vi phạm của ông P. Kết quả 8/8 phiếu chọn hình thức sa thải ông P về hành vi vi phạm nội quy lao động của Ban Quản Trị.

Ngày 14/06/2024, Ban Quản Trị ban hành Thông báo về việc thông báo hình thức xử lý kỷ luật đối với ông P, nội dung có thể hiện thời hạn cho phép ông P được khiếu nại trong thời gian 30 ngày từ ngày 14/06/2024 đến hết ngày 13/07/2024, nếu hết thời hạn mà ông không có khiếu nại thì Ban Quản T1 sẽ ra quyết định xử lý kỷ luật Buộc thôi việc (sa thải) đối với ông P.

Ông Nguyễn Bá P không khiếu nại, nên sau khi kết thời hạn khiếu nại, Ban Quản Trị ra Quyết định số 21/QĐ-BQT ngày 15/07/2024 về việc xử lý kỷ luật nhân viên, hình thức xử lý kỷ luật buộc thôi việc (Sa thải) đối với ông Nguyễn Bá P, nhân viên bảo vệ Ban Quản Trị với lý do Vi phạm Nội quy lao động của Ban Quản Trị trong quá trình công tác, hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/07/2024.

Trước đây, ông Nguyễn Bá P là người trực tiếp bảo vệ đã giám sát hành vi vi phạm của nhân viên (ông Võ Lý Phi Đ, nhân viên hợp đồng thời vụ của Ban Quản Trị) nhận 100.000 đồng và Lãnh đạo Ban Quản Trị đã quyết định cho ông Võ Lý Phi Đ thôi việc, chấm dứt hợp đồng, nhưng nay ông P lại vi phạm hành vi này.

Ban Q1 đã tổ chức họp Hội đồng vừa động viên từ tháng 02/2024 đến tháng 07/2024 mới ra quyết định xử lý kỷ luật đối với ông P nhưng ông P xem thường pháp luật, bất chấp động viên của Lãnh đạo Ban Quản Trị.

Lễ hội vía Bà Chúa Xứ N là địa điểm du lịch tâm linh của địa phương và hiện nay được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, nên cần phải quản lý chặt chẽ về công tác quản lý cán bộ, nhân viên thuộc Ban Q1.

Việc ông Nguyễn Bá P nhận tiền của khách hành hương, đã vi phạm Nội quy lao động. Ban Q1 đã tổ chức thực hiện quy trình xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm nội quy của ông P một cách khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, chính xác, kịp thời, căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, thể hiện tính răn đe, thượng tôn pháp luật, đảm bảo theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định pháp luật, đúng nội quy, quy chế đơn vị. Vì vậy Ban Q1 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Bá P

* Tại bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13-An Giang, đã quyết định:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá P yêu cầu Hủy Quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc theo Quyết định số 21/QĐ-BQT ngày 15/7/2024 của Ban Q1 và bồi thường tiền lương với số tiền 8.145.000đ/tháng từ ngày 15/7/2024 đến ngày xét xử.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 23/5/2025, ông Nguyễn Bá P kháng cáo Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 08/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13 - An Giang. Yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, cụ thể: Sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm nếu có vi phạm tố tụng đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn ông Nguyễn Bá P, luật sư Đặng Văn K là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đều có đơn đề ngày 15/9/2025, nội dung xin được vắng mặt tại phiên tòa và có ý kiến: Cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng khi không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Hải V, ông Thái Nhật T là người đưa tiền, không lấy lời khai bà V đưa tiền với mục đích gì, việc ban hành quyết định kỷ luật sa thải không có ý kiến của bà V. Cấp sơ thẩm xét xử không khách quan bênh vực người sử dụng lao động là Ban Quản trị Lăng Miếu N. Đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hủy Quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc theo Quyết định số 21/QĐ-BQT ngày 15/7/2024 của Ban Q1 và bồi thường tiền lương với số tiền 8.145.000đ/tháng từ ngày 15/7/2024 đến ngày xét xử. Xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm nếu có vi phạm tố tụng đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì có oan sai.

+ Ông Võ Thành Q là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Ban Q1 thống nhất với bản án sơ thẩm đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông P vì trình tự việc xử lý và ban hành quyết định kỷ luật ông P là đúng theo quy định.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bá P; Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ -ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13-An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Bá P kháng cáo trong hạn luật định và thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí lao động nên Hội đồng xét xử giải quyết theo trình tự phúc thẩm quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Bá P là người kháng cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật sư Đặng Văn K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu cầu vắng mặt là phù hợp theo Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự nên tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông P và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Bá P, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Ông Nguyễn Bá P yêu cầu hủy Quyết định số 21 của Ban Quản Trị vì không tuân thủ trình tự thủ tục, đồng thời yêu cầu Ban Quản Trị nhận ông vào làm việc, bồi thường thiệt hại tiền lương mỗi tháng 8.145.000 đồng kề từ ngày 15/7/2024 đến khi xét xử. Bị đơn Ban Quản Trị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyễn Bá P, xác định do P vi phạm Nội quy cơ quan và việc xử lý kỷ luật P bằng hình thức sa thải là đúng trình tự thủ tục.

Ông Nguyễn Bá P và Ban Q1 do ông Lâm Quốc D đại diện ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 25/HĐ2011 ngày 15/02/2011, công việc là nhân viên bảo vệ. Tại phiên tòa, ông Q là người đại diện cho bị đơn xác định giữa ông P và Ban quản trị Lăng Miếu Núi Sam không ký lại hợp đồng nào khác chỉ có hợp đồng lao động số 25/HĐ2011 ngày 15/02/2011, mức lương khác so với hợp đồng do lương tối thiểu vùng tăng và các chính sách, chế độ ông P được nhận theo quy định là tiền lương mỗi tháng 8.145.000 đồng/tháng nên được xem là giữa các bên có hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp theo quy định tại Điều 15, điểm a khỏan 1 Điều 22 của Bộ luật lao động

Ban Q1 đã ban hành Quyết định số 12/QĐ-BQT ngày 05/3/2024, thành lập Hội đồng xử lý kỷ luật và tiến hành thực hiện quy trình xử lý kỷ luật đối với ông P.

Theo tài liệu, chứng cứ thể hiện ông P có Đơn tường trình ngày 25/02/2024 (Bút lục số 37) thừa nhận trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phân công trong ca trực ngày 20/02/2024, ông P đã nhận tiền lì xì của bà Trần Thị Hải V 500.000 đồng và nhận 1.000.000 đồng bà V gửi lì xì phù hợp với lời trình bày của người làm chứng ông T, nhận tiền khi chưa được sự cho phép của Lãnh đạo Ban Quản Trị.

Ban Q1 có ban hành Nội quy lao động số 35/NQLĐ ngày 10/4/2022 và đăng ký nội quy lao động với Sở Lao động , thương binh và xã hội tỉnh A (nay là Sở N2) theo quy định tại Điều 118, Điều 121 của Bộ Luật Lao động, được Sở Nội vụ xác nhận nên đối chiếu vào khoản 19 Điều 15, Điều 27 của Nội quy lao động quy định: “Không nhận quà biếu, tiền, hiện vật và bất cứ tài sản gì khi chưa có ý kiến của lãnh đạo Ban quản trị Lăng Miếu” nếu có hành vi vi phạm sẽ áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng

Mặc dù, sau khi sự việc được Lãnh đạo Ban Q1 phát hiện, ông P chủ động liên hệ bà V trả lại số tiền 1.500.000 đồng (Bút lục số 36) nhưng đối chiếu quy định trên thì ông P đã vi phạm nội quy của Ban Q1.

Từ ngày 08/5/2024, Ban Quản trị đã mời ông P họp và lập biên bản về việc có ý kiến đối với việc tự nguyện nộp đơn xin nghỉ việc theo nguyện vọng. Tại phiên họp ông P có mặt và không có ý kiến nên ngày 17/5/2024 Hội đồng xử lý kỷ luật đã họp và biểu quyết bằng phiếu kín về việc xử lý kỷ luật ông P; kết quả 08/8 phiếu thống nhất xử lý kỷ luật ông P bằng hình thức sa thải theo quy định pháp luật.

Ngày 14/6/2024 Ban Quản trị ban hành Thông báo về hình thức xử lý kỷ luật đối với ông P và cho ông P được khiếu nại trong thời hạn 30 ngày. Hết thời hạn khiếu nại ngày 15/7/2024, Ban Quản trị ban hành Quyết định số 21/QĐ-BQT về việc xử lý kỷ luật nhân viên, hình thức xử lý kỷ luật buộc thôi việc (Sa thải) đối với ông Nguyễn Bá P, nhân viên bảo vệ Ban Quản Trị với lý do vi phạm Nội quy lao động của Ban Quản Trị là phù hợp với quy định tại Điều 123, 124 của Bộ Luật Lao động.

Căn cứ về trình tự thủ tục về việc xử lý ký luật, ông P có tường trình ngày 25/02/2024, Ban Q1 đã thành lập Hội đồng xử lý kỷ luật, thực hiện lập biên bản họp ngày 04/4/2024 và ông P có dự họp, cũng như có ý kiến tại cuộc họp ngày 04/4/2024 đồng ý nhận hình thức kỷ luật thôi việc theo nguyện vọng do Hội đồng xử lý kỷ luật đề ra và ông P sẽ nộp đơn thôi việc nên phù hợp theo trình tự quy định tại Điều 122, Điều 123 của Bộ luật lao động và phù hợp tại Điều 70 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động

Hội đồng xét xử nhận thấy đối với yêu cầu của ông P về việc yêu cầu Ban Quản trị nhận ông vào làm việc và bồi thường tiền lương 8.145.000 đồng/tháng từ ngày 15/7/2024 đến ngày xét xử và yêu cầu hủy Quyết định số 21/QĐ-BQT ngày 15/7/2025 của Ban Quản Trị không được cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp theo quy định và có căn cứ

Ông P kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng khi không đưa bà V, ông T vào tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không lấy lời khai và khi ban hành quyết định khi không có ý kiến của bà V nên đề nghị hủy án sơ thẩm. Hội đồng xét xử nhận thấy đối với các nội dung này thì ông T, bà V đều có ý kiến đối với sự việc được cấp sơ thẩm xác định với tư cách là người làm chứng theo quy định tại Điều 77 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp. Cả ông T, bà V không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, bà V không phải là người sử dụng lao động trực tiếp của ông P, việc ký kết hợp đồng lao động trực tiếp với ông P là Ban Quản trị Lăng Miếu Núi Sam nên khi ban hành quyết định kỷ luật của Ban Q1 không cần phải có ý kiến của bà V. Vì vậy, ông P cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng là không có căn cứ.

Ông P kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là phù hợp theo quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Bá P theo nhận định như trên của Hội đồng xét xử.

Đối với các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và giữ nguyên như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nên ông Nguyễn Bá P không phải nộp tiền án phí lao động phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Bá P

Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13-An Giang:

Căn cứ các Điều 13, 34, 117, 118, 121, 122, 123, 124, 129, 130, 187, 188 và Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019; Các Điều 32, 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá P yêu cầu Hủy Quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc theo Quyết định số 21/QĐ-BQT ngày 15/7/2024 của Ban Q1 và bồi thường tiền lương với số tiền 8.145.000đ/tháng từ ngày 15/7/2024 đến ngày xét xử.

2. Về án phí lao động:

2.1. Về án phí lao động sơ thẩm:

Nguyên đơn ông Nguyễn Bá P được miễn án phí.

Bị đơn Ban Q1 không phải chịu án phí.

2.2. Về án phí lao động phúc thẩm:

Ông Nguyễn Bá P không phải nộp tiền án phí lao động theo điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ