- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng HD khởi kiện ông T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (H1) đối với ông Đỗ Anh T2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/KDTM-ST Ngày: 08-8-2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài
Ông Đặng Quang Hoạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2025/TLST-KDTM ngày 24/4/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-KDTM ngày 28/7/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (H1)
Trụ sở tại: B Bis N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (nay là 25 Bis N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Nguyễn Bảo H; Chức vụ: Giám đốc TT.XLN, Ngân hàng TMCP P.
Người nhận ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị Đại T1; Địa chỉ: F P, phường F, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (nay là F P, phường X, thành phố Hồ Chí Minh).
- Bị đơn: Ông Đỗ Anh T2, sinh năm 1999
Trú tại: tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là tổ H, ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai).
(bà T1 có mặt, ông T2 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, trình bày:
Ngày 03/10/2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H
- Chi nhánh L (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Đỗ Anh T2 ký hợp đồng tín dụng (áp dụng đối với khách hàng vay từng lần) số 26848/23MN/HĐTD. Theo đó, ngân hàng cho ông T2 vay số tiền 3.000.000.000đ, thỏa thuận thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể theo thoả thuận của hai bên trên cơ sở được Ngân hàng ban hành từng thời kỳ và được điều chỉnh theo thông báo trong suốt thời gian vay. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm. Mục đích sử dụng vốn là sản phẩm bổ sung vốn lưu động mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mua bán bia, nước giải khát, buôn bán tạp hóa. Bên vay phải trả nợ (gốc và lãi, phạt) cho Ngân hàng theo từng thời kỳ trong thời hạn quy định tại khế ước nhận nợ, lịch trả nợ, các cam kết khác.
Hai bên đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20069/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023, theo đó: tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là thửa đất số 611, tờ bản đồ số 30, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã A, thành phố Hồ Chí Minh), có diện tích là 1.528,9m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 494534 ngày 09/011/2019 cho bà Phùng Thị T3 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thành phố Hồ Chí Minh ghi chú chuyển nhượng cho ông Đỗ Anh T2 ngày 27/9/2023.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đỗ Anh T2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 357.091.346 đồng. Do ông T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Anh T2 phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 08/08/2025 là số tiền 3.531.161.172 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.999.999.996 đồng, nợ lãi trong hạn là 31.096.083 đồng, nợ lãi quá hạn 500.065.093 đồng. Tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 09/8/2025 cho đến khi thanh toán xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ.
Tài sản bảo đảm thi hành án là quyền sử dụng thửa đất số 611, tờ bản đồ số 30, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (cũ) đã được ghi chú chuyển nhượng ngày 27/9/2023 cho ông Đỗ Anh T2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20069/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023. Sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm mà không đủ để tất toán khoản vay thì ông T2 phải tiếp tục nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cho đến hết số tiền nợ.
Ngoài ra, Ngân hàng không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.
* Bị đơn trình bày: Vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thụ lý đơn, thời hiệu khởi kiện, thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử và việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đều đã thực hiện đầy đủ.
Về nội dung vụ án: Căn cứ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20069/23MN/HĐBĐ và hợp đồng tín dụng số 26848/23MN/HĐTD giữa Ngân hàng H1 với ông Đỗ Anh T2 ngày 03/10/2023 để vay số tiền 2.999.000.000 đồng. Do ông T2 không thực hiện đúng cam kết trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nên Ngân hàng H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu buộc ông Đỗ Anh T2 phải trả Ngân hàng H1 tổng số tiền (nợ gốc và lãi phát sinh) là 3.482.453.534đ (tính đến ngày 07/7/2025) là có căn cứ.
Đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 463, 466, 468, Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 với với ông Đỗ Anh T2.
- Tài sản bảo đảm thi hành án là quyền sử dụng thửa đất số 611, tờ bản đồ số 30, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí và chi phí tố tụng khác: Buộc bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại khoản 3 Điều 10 của Hợp đồng tín dụng, thể hiện: Giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H – Chi nhánh L (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Đỗ Anh T2 có thỏa thuận về giải quyết tranh chấp tại Tòa án có thẩm quyền. Trong khi đó, bị đơn – ông Đỗ Anh T2 có nơi cư trú tại tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai) nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom (nay là TAND Khu vực 3 – Đồng Nai) có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do chính đáng, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn đã cung cấp toàn bộ hồ sơ vay vốn, gồm: Hợp đồng tín dụng (áp dụng đối với khách hàng vay từng lần) số 26848/23MN/HĐTD ngày 03/10/2023; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20069/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/10/2023 và 01 CCCD (T2), giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh. Ngày 16/12/2024, Ngân hàng ban hành Thông báo số 041612/TB-HDBank đối với ông T2 về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu không toàn bộ dư nợ sẽ chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn cho đến khi tất toán. Ngày 18/3/2025, Ngân hàng đã ban hành Thông báo khởi kiện về việc chấm dứt cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn theo thoả thuận tại Điều 6 của hợp đồng tín dụng ngày 03/10/2023 và nộp đơn khởi kiện ngày 04/4/2025 là đảm bảo về quyền khởi kiện theo quy định khoản 2 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – ông Đỗ Anh T2 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không hợp tác lên làm việc, không giao nộp tài liệu, chứng cứ do Toà án yêu cầu mà không có lý do là từ chối nghĩa vụ chứng minh của mình. Nên Hội đồng xét xử, căn cứ và các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp và Toà án thu thập để giải quyết vụ án.
Xét hợp đồng tín dụng số 26848/23MN/HĐTD ngày 03/10/2023 được giao kết giữa Ngân hàng và ông T2 tuy không được công chứng, chứng thực nhưng cùng ngày các bên đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20069/23MN/HĐBĐ và được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo cho khoản vay nên đây được coi là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Giữa Ngân hàng và ông T2 có giao kết hợp đồng tín dụng ngày 03/10/2023 để vay số tiền 3.000.000.000đ và thực tế ông T2 đã nhận đủ số tiền này theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/10/2023. Vì vậy, đã có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo đó: ông T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 3.531.161.172 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.999.999.996 đồng, nợ lãi trong hạn là 31.096.083 đồng, nợ lãi quá hạn 500.065.093 đồng (tạm tính đến ngày 08/8/2025). Theo yêu cầu của Ngân hàng, căn cứ các hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 09/8/2025 cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng thì ông T2 còn phải trả các khoản tiền lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận tương ứng với số tiền và thời gian chưa thanh toán là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng.
Ngoài ra, để bảo đảm cho khoản vay, bị đơn đã thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 611, tờ bản đồ số 30, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã A, thành phố Hồ Chí Minh) được thể hiện tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 03/10/2023 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H – chi nhánh huyện C ngày 04/10/2023 theo quy định tại Điều 293, Điều 298 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực, đủ điều kiện để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng đã nộp tạm ứng. Ông T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng chi phí tố tụng về việc xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất thế chấp là số tiền 7.000.000đ.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 3 – Đồng Nai về tố tụng, đường lối giải quyết và án phí của vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 293, Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (H1) đối với ông Đỗ Anh T2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc ông Đỗ Anh T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (H1) số tiền 3.531.161.172 đồng (Ba tỷ năm trăm ba mươi mốt triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm bảy mươi hai đồng), (tính đến ngày 08/8/2025), trong đó:
+ Số tiền nợ gốc là 2.999.999.996 đồng (Hai tỷ chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng);
+ Số tiền nợ lãi trong hạn là 31.096.083 đồng (Ba mươi mốt triệu không trăm chín mươi sáu nghìn không trăm tám mươi ba đồng);
+ Số tiền nợ lãi quá hạn là 500.065.093 đồng (Năm trăm triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn không trăm chín mươi ba đồng);
Kể từ ngày 09/8/2025, ông Đỗ Anh T2 chậm thanh toán số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 26848/23MN/HĐTD ngày 03/10/2023 cho đến khi thanh toán xong.
- Tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 611, tờ bản đồ số 30, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã A, thành phố Hồ Chí Minh) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20069/23MN//HĐBĐ ngày 03/10/2023 được dùng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Đỗ Anh T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (H1) số tiền chi phí tố tụng là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
3. Về án phí:
- Ông Đỗ Anh T2 phải chịu số tiền 102.623.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (H1) số tiền 48.893.000đ (Bốn mươi tám triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp, theo biên lai thu số 0001057 ngày 16/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đ).
Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cũng bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND KV3-Đồng Nai; - THADS t.Đồng Nai; - P.THADS KV3-Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thùy Dung |