vanban.org

Bản án 02/2025/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”;

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bị cáo Hồ Văn C1: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Văn C và đồng phạm - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 06 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Thực

2. Ông Lê Giáo

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hoài Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 952/2024/HSST ngày 18/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6605/2024/QĐXXST-HS ngày 16/12/2024 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Văn C; giới tính: Nam; sinh ngày: 01/01/1987; tại tỉnh L; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh L; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị U (chết); có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Tại Bản án số 467/2023/HSPT ngày 23/10/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã xử phạt 15 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, ngày 12/11/2024 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Hồ Văn C1; giới tính: Nam; sinh ngày: 01/01/1983; tại tỉnh L; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh L; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Hồ Văn N (chết) và bà Đặng Thị D; có vợ và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/6/2024; có mặt.

3. Trần Mạnh K; giới tính: Nam; sinh ngày: 23/9/1999; tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: Đường T, ấp A, xã M, huyện C, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Văn C2 và bà Mai Thị Lệ Q; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 142/HSST ngày 23/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh L đã xử phạt 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 01 năm, về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/6/2024; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Luo Zhao Y, sinh năm: 1998; Địa chỉ cư trú tại Việt Nam: đường N, xã L, huyện B, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2022, trong thời gian làm nghề lái xe taxi công nghệ, Nguyễn Văn C quen người sử dụng tài khoản Zalo tên “H.T” (không rõ lai lịch). Đến ngày 26/11/2023, “H.T” gọi vào tài khoản Zalo tên “Tổng đài taxi Miền Nam” của Nguyễn Văn C, thuê Nguyễn Văn C ngày 27/11/2023 đến khu vực gần khách sạn NC trên đường V, quận T, thành phố H đón 03 người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép, chở đến huyện B, tỉnh T, tiền công 5.000.000 đồng, Nguyễn Văn C đồng ý và gọi điện thoại thuê người quen là Hồ Văn C1 lái xe ô tô hiệu Toyota Innova biển số 62A-340.42 của Nguyễn Văn C đón và chở 03 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép đi theo lộ trình trên, đồng thời Nguyễn Văn C nói Hồ Văn C1 rủ Trần Mạnh K là người quen của Nguyễn Văn C và Hồ Văn C1 đi cùng. Nguyễn Văn C sẽ trả cho Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K mỗi người 500.000 đồng tiền công, Hồ Văn C1 đồng ý và gọi điện thoại rủ Trần Mạnh K cùng thực hiện, Trần Mạnh K đồng ý. Trước ngày 26/11/2023 khoảng 02 ngày, Luo Zhao Y và 02 người đàn ông cùng quốc tịch Trung Quốc khác (không rõ lai lịch) đến thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc để tìm việc làm, thì được người đàn ông Trung Quốc (không rõ lai lịch) đón, chở bằng xe ô tô đưa đến khu vực biên giới Trung Quốc - Việt Nam, rồi dẫn đi theo đường mòn biên giới, để nhập cảnh Việt Nam trái phép (không xác định được địa điểm cụ thể). Sau khi nhập cảnh Việt Nam trái phép, Luo Zhao Y và 02 người đàn ông quốc tịch Trung Quốc được 02 người đàn ông Việt Nam (không rõ lai lịch) đón, chở bằng xe ô tô đi vào nội địa Việt Nam, đến ngày sáng ngày 27/11/2023 thì đến khu vực gần khách sạn NC, trên đường V, quận T, thành phố H. Sáng ngày 27/11/2023, Hồ Văn C1 điều khiển xe ô tô hiệu Toyota Innova biển số 62A-340.42 của Nguyễn Văn C đón Trần Mạnh K, rồi đón 03 người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép, như đã thỏa thuận với Nguyễn Văn C. Đến nơi, sau khi chờ khoảng 15 phút thì Luo Zhao Y và 02 người đàn ông quốc tịch Trung Quốc đi đến đến gõ vào cửa xe ô tô, Hồ Văn C1 đón 03 người lên ngồi lên băng ghế sau, rồi nói Trần Mạnh K sử dụng điện thoại di động của Hồ Văn C1 chụp ảnh 03 người để Hồ Văn C1 gửi tin nhắn báo cho Nguyễn Văn C biết, sau đó Hồ Văn C1 điều khiển xe ô tô đi đến huyện B, tỉnh T. Khi đến khu vực đường T, xã A, huyện B, thành phố H, do xe di chuyển chậm, thì Luo Zhao Y đã mở cửa, xuống xe ô tô bỏ chạy. Thấy vậy, Hồ Văn C1 chạy bộ đuổi theo giữ Luo Zhao Y lại, Hồ Văn C1 sử dụng phần mềm dịch tiếng Trung Quốc trên điện thoại di động hỏi lý do, thì Luo Zhao Y cho biết đã bị lừa, không đi tiếp nữa, nên Hồ Văn C1 gọi điện báo cho Nguyễn Văn C biết. Nguyễn Văn C yêu cầu Hồ Văn C1 tiếp tục chở Trần Mạnh K và 02 người Trung Quốc đến huyện B, tỉnh T. Hồ Văn C1 quay lại xe, nói Trần Mạnh K sử dụng phần mềm dịch tiếng Trung Quốc để khuyên Luo Zhao Y tiếp tục đi, nhưng Luo Zhao Y không đồng ý, nên Hồ Văn C1 điều khiển xe ô tô chở Trần Mạnh K và 02 người đàn ông Trung Quốc đi đến huyện B, tỉnh T. Lúc này, chị Nguyễn Tuyết N1 nhìn thấy Luo Zhao Y đứng trước nhà số E6/4 tổ 15, ấp 5, xã A, huyện B, thành phố H nên đã đưa Luo Zhao Y đến Công an xã A, huyện B, thành phố H trình báo sự việc.

Trên đường đi đến huyện B, tỉnh T, Hồ Văn C1 nhận được điện thoại của người đàn ông (không rõ lai lịch) hẹn Hồ Văn C1 giao 02 người đàn ông Trung Quốc tại cây xăng bỏ hoang trên đường tỉnh lộ thuộc huyện B, tỉnh T. Tại đây, sau khi giao 02 người đàn ông Trung Quốc cho 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu hiệu Honda Wave và Yamaha Exciter (che biển số xe), đeo khẩu trang, Hồ Văn C1 điều khiển xe ô tô chở Trần Mạnh K xe quay về. Do chưa nhận được 5.000.000 đồng từ “H.T” nên Nguyễn Văn C chưa trả tiền công cho Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K.

Ngày 01/12/2023, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an Thành phố Hồ Chỉ Minh xác nhận Luo Zhao Y quốc tịch Trung Quốc, không có thông tin xuất nhập cảnh vào Việt Nam.

Ngày 19/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số 714/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 12/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng;

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn C1 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng;

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Mạnh K từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan An ninh điều tra đã thu thập được chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, có đủ cơ sở để kết luận: Vì vụ lợi, ngày 27/11/2023, Nguyễn Văn C đã thuê Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K sử dụng xe ô tô hiệu Toyota Innova biển số 62A-340.42 của Nguyễn Văn C để đón 03 người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép, gồm Luo Zhao Y và 02 người khác (không rõ lai lịch), đi từ khu vực gần khách sạn NC, trên đường V, quận T, thành phố H, đến huyện B, tỉnh T. Trên đường đi, Luo Zhao Y xuống xe, không đồng ý tiếp tục đi, nên Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K chở 02 người đàn ông Trung Quốc còn lại giao cho 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) tại cây xăng bỏ hoang trên đường tỉnh lộ thuộc huyện B, tỉnh T. Do không giao đúng 03 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép, nên Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K chưa nhận được 5.000.000 đồng tiền công. [3] Hành vi của Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định quản lý Nhà nước về xuất, nhập cảnh. Mặc dù biết trước hành vi của mình là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Hồ Văn C1 và Trần Mạnh K có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồ Văn C1 lần đầu phạm tội nên áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường phạm có đồng phạm quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự, trong đó bị cáo Nguyễn Văn C giữ vai trò chính, đã có tiền án về cùng hành vi này chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Các bị cáo Hồ Văn C1, Trần Mạnh K tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Văn C, thực hiện hành vi theo yêu cầu của Nguyễn Văn C nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định phạt tiền bổ sung, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều vì vụ lợi nhưng chưa được hưởng tiền công theo như đã được hứa hẹn và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không phạt tiền bổ sung để nộp ngân sách Nhà nước đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, số Imei 352884791863161 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) thu giữ của bị cáo Trần Mạnh K; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 350618549329980 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) thu giữ của bị cáo Hồ Văn C1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S số Imei1: 866314059892719, số Imei 2: 866314059892701 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C, xét có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;

- 01 xe ô tô hiệu Toyota Innova, biển số 62A-340.42, số khung: RL4XW41G669000784, số máy: 1TR6333084 thu giữ của Nguyễn Văn C, xét đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”;

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Văn C1: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”;

Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh K: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”; Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024. 4. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, số Imei 352884791863161 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 350618549329980 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S số Imei1: 866314059892719, số Imei 2: 866314059892701 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 xe ô tô hiệu Toyota Innova, biển số 62A-340.42, số khung: RL4XW41G669000784, số máy: 1TR6333084 thu giữ của Nguyễn Văn C. (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/101 ngày 26/11/2024 và Công văn số 26785/CTHADS-KHTC ngày 06/12/2024 cùng của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.) Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ