vanban.org

Bản án 02/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Sỹ M.

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Sỹ M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". * Xử phạt: Bị cáo Trần Sỹ M 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/8/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Sỹ M - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Sỹ M.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MỸ HÀO
TỈNH HƯNG Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HSST.
Ngày: 16/01/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG Y

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Phan Xuân Hùng.

2- Ông Bùi Văn Động.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 16/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 02/01/2025 đối với bị cáo:

* Trần Sỹ M, sinh năm 1995 tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y; Nơi cư trú: Thôn Đồng Chung, xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Trần Văn Lực; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Quy; Vợ, con: Chưa có;

Nhân thân: Ngày 17/9/2015 bị của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”; Ngoài ra, ngày 17/12/2024 bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 18/12/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y xử phạt 01 năm 03 tháng tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 18/6/2021 Mỹ chấp hành xong toàn bộ quyết định của Bản án;

Bị cáo Trần Sỹ M bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 22/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Hưng Y (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đường, sinh năm 1964 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Hoằng, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đoàn Văn Trác, sinh năm 1980 (Có mặt). Địa chỉ: Thôn Thịnh, xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Y.

* Người làm chứng:

- Anh Hoàng Đức Huy, sinh năm 1983 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Báo Văn 2, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Anh Trần Đình Quân, sinh năm 1985 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Vĩnh Phệ, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

- Anh Trương Minh Hữu, sinh năm 1984 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố Đông, phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tình Thái Nguyên.

- Anh Tạ Đức Vạn, sinh năm 1974 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Khả Lý Hạ, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Thành Bắc, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố Dục Quang, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Lương Xuân Dự, sinh năm 1983 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố Kế, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Đỗ Hồng Biên, sinh năm 1981 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số 475 Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Vương Quốc Phong, sinh năm 1977 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Chùa Ngoài, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Đặng Văn Thuỵ, sinh năm 1990 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố Lèo, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Lưu Ngọc Hùng, sinh năm 1986 (Vắng mặt). Nơi thường trú: Thôn Đông, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện nay: Thôn Mải Hạ, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Hoằng, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Sỹ M sinh năm 1995 trú tại thôn Đồng Chung, xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y là đối tượng không có nghề nghiệp. Do có nhu cầu thuê xe ô tô tự lái để làm phương tiện đi lại nên Mỹ tìm hiểu trên mạng, biết được Công ty trách nhiệm hữu hạn VSMARTGARMENT có trụ sở tại số nhà 36, đường Đỗ Thế Diên, tổ dân phố Phố Nối, phường Bần Yên Nhân, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y, do ông Đoàn Văn Trác, sinh năm 1980 trú tại thôn Thịnh, xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Y là Giám đốc, có dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái.

Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 19/02/2022, Mỹ đến văn phòng công ty gặp ông Trác thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10, biển số đăng ký 89A-04176 màu bạc, số khung: 51CBFM150686 số máy: 89A041.76. Ông Trác đồng ý, thống nhất làm hợp đồng cho Mỹ thuê xe thời hạn 5 ngày 4 đêm với giá 3.100.000đ, Mỹ trả trước ông Trác số tiền 3.000.000đ. Ông Trác bàn giao xe ô tô, 01 đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận đăng kiểm, 01 hợp đồng bảo hiểm xe (đều mang tên Đoàn Văn Trác) cho Mỹ. Mỹ điều khiển xe đi đến tỉnh Hải Dương chơi, đến buổi chiều cùng ngày khi đi về đến khu vực thị xã Mỹ Hào do không còn tiền tiêu xài và trả nợ nên Mỹ đã nảy sinh ý định mang chiếc xe trên đi cầm cố lấy tiền. Mỹ gọi điện thoại cho ông Nguyễn Văn Đường, sinh năm 1964 trú tại thôn Hoằng, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y (ông Đường là chủ cơ sở cầm đồ, quen biết với Mỹ từ trước), nói dối ông Đường, Mỹ có người bạn muốn cầm cố xe ô tô, ông Đường đồng ý nhưng yêu cầu phải có chủ xe đi cùng. Mỹ điều khiển xe đi đến đoạn đường trong khu công nghiệp Phố Nối A thuộc huyện Văn Lâm thì gặp một nam thanh niên không rõ họ tên tuổi, địa chỉ, Mỹ thuê người này giả làm ông Trác để cùng Mỹ đi cầm cố chiếc xe, Mỹ sẽ trả công 500.000đ, người này đồng ý. Sau đó Mỹ điều khiển xe chở người thanh niên đến gặp ông Đường nói dối người thanh niên là chủ xe muốn cầm cố xe vài ngày. Sau khi xem xe, giấy tờ xe, ông Đường đồng ý cầm cố chiếc xe với giá 140.000.000đ, không tính lãi suất. Do chưa có căn cước công dân của chủ xe nên ông Đường đưa trước cho Mỹ và nam thanh niên 50.000.000đ, còn lại 90.000.000đ khi nào mang căn cước công dân đến sẽ thanh toán nốt. Mỹ và nam thanh niên rời khỏi nhà ông Đường, trên đường đi Mỹ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Mỹ chụp ảnh nam thanh niên rồi hẹn sáng hôm sau gặp nhau cùng đi đến nhà ông Đường lấy nốt tiền, nam thanh niên đồng ý. Mỹ thuê xe taxi (không nhớ biển số, hãng taxi) đi đến quán photocopy trên địa bàn huyện Văn Lâm (không xác định được địa chỉ cụ thể của quán), bảo chủ quán in hộ ảnh của nam thanh niên. Tại đây, Mỹ mượn máy tính, tự làm giả chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Văn Trác, xong dán ảnh của thanh niên vào để phô tô thành bản phô tô chứng minh nhân dân có ảnh mang tên Đoàn Văn Trác, còn tờ chứng minh nhân dân dán ảnh của nam thanh niên, trên đường về Mỹ đã vo lại rồi ném đi.

Đến sáng ngày 20/02/2022, Mỹ thuê xe taxi đến khu công nghiệp Phố Nối A đón nam thanh niên đi đến nhà ông Đường. Khi đến nơi, Mỹ đưa cho ông Đường bản phô tô chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Văn Trác. Ông Đường tin tưởng nam thanh niên chính là chủ xe nên đã đưa hợp đồng vay nhận tiền, cầm đồ để nam thanh niên tự viết thông tin, thời hạn cầm cố xe từ ngày 19/02/2022 đến ngày 29/02/2022 rồi ký, ghi họ tên Đoàn Văn Trác vào mục người nhận tiền, ông Đường và Mỹ cũng ký vào hợp đồng nói trên xong ông Đường quản lý. Ông Đường đưa cho Mỹ và nam thanh niên số tiền 90.000.000đ, trên đường về Mỹ đã trả người này 500.000đ. Ngày 21/02/2022 do sợ ông Trác phát hiện việc Mỹ đã cầm cố xe nên Mỹ đã liên hệ với ông Trác thuê xe thêm 09 ngày 08 đêm, ông Trác đồng ý, Mỹ đã chuyển khoản trả ông Trác số tiền 5.000.000đ. Số tiền còn lại Mỹ đã chi tiêu cá nhân, rồi bỏ trốn khỏi địa phương.

Hết thời hạn cầm cố xe, không thấy Mỹ và nam thanh niên quay lại, ông Đường nhiều lần liên hệ với Mỹ nhưng không được nên ông Đường bảo anh Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1992 (là con trai ông Đường) bán chiếc xe để thu hồi vốn. Ngày 30/3/2022, anh Tiến đã bán chiếc xe ô tô và bàn giao giấy tờ xe nói trên cho anh Hoàng Đức Huy, sinh năm 1983 trú tại thôn Báo Văn 2, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 194.000.000đ. Ngày 21/4/2022, anh Huy bán lại chiếc xe cho anh Trần Đình Quân, sinh năm 1985 trú tại thôn Vĩnh Phệ, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội với giá 195.000.000đ. Cuối tháng 4/2022, anh Quân bán chiếc xe cho anh Trương Minh Hữu, sinh năm 1984 trú tại tổ dân phố Đông, phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với giá 232.000.000đ. Tháng 5/2022, anh Hữu bán chiếc xe cho anh Tạ Đức Vạn, sinh năm 1974 trú tại thôn Khả Lý Hạ, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang với giá 238.000.000 đồng. Đầu tháng 9/2022, anh Vạn bán chiếc xe cho anh Nguyễn Thành Bắc, sinh năm 1990 trú tại tổ dân phố Dục Quang, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang với giá 230.000.000đ. Ngày 11/10/2022, anh Bắc bán lại chiếc xe ô tô trên cho anh Đỗ Hồng Biên, sinh năm 1981 trú tại số 475 Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang với giá 220.000.000đ. Cũng trong tháng 10/2022 anh Biên bán chiếc xe cho anh Vương Quốc Phong, sinh năm 1977 trú tại thôn Chùa Ngoài, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang với giá 230.000.000đ. Ngày 02/3/2023 anh Phong bán chiếc xe cho anh Đặng Văn Thuỵ, sinh năm 1990 trú tại tổ dân phố Lèo, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang với giá 240.000.000đ. Ngày 08/3/2023 anh Thuỵ đổi chiếc xe ô tô trên cho anh Lưu Ngọc Hùng, sinh năm 1986 trú tại thôn Đông, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang để lấy chiếc xe ô tô Kia Morning biển số đăng ký 29A-189.87 và lấy được số tiền 125.000.000đ.

Còn ông Trác nhiều lần liên hệ với Mỹ nhưng không được nên ngày 12/01/2023 đã làm đơn trình báo Công an thị xã Mỹ Hào và giao nộp 01 hợp đồng thuê xe ô tô biển số đăng ký 89A-041.76 có chữ ký, chữ viết của Trần Sỹ M (ghi ký hiệu A1), 01 BẢNG GIÁ/BẢNG TÍNH TIỀN/BIÊN BẢN GIAO NHẬN CHO THUÊ XE Ô TÔ BKS 89A-041.76 có chữ ký, chữ viết của Trần Sỹ M (ghi ký hiệu A2), 01 bản phô tô căn cước công dân và 01 phô tô giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Trần Sỹ M. Ngày 17/5/2023, anh Hùng tự nguyện giao nộp chiếc xe ô tô, đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định và bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang đều mang tên Đoàn Văn Trác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Ngày 19/6/2023 ông Đường giao nộp 01 hợp đồng vay nhận tiền, cầm đồ có chữ ký của Đoàn Văn Trác, Trần Sỹ M và Nguyễn Văn Đường (ghi ký hiệu M).

Ngày 19/8/2024 Trần Sỹ M đến Công an phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 căn cước công dân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X. Cùng ngày Công an phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã thông báo và bàn giao Mỹ cùng tài liệu có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho ông Trác, ông Đường và anh Tiến nhận dạng Trần Sỹ M, kết quả: Ông Trác khẳng định Mỹ là người đã thuê xe ô tô của ông, còn ông Đường và anh Tiến khẳng định Mỹ và một thanh niên mang xe ô tô biển số 89A-041.76 đến cầm cố.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐ ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã Mỹ Hào kết luận: Giá trị của chiếc xe ô tô biển số 89A-041.76 tại thời điểm ngày 19/02/2022 là 310.000.000đ.

Tại bản Kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Y kết luận: Chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên Trần Sỹ M, màu mực xanh trên Hợp đồng cho thuê xe ô tô Huyndai BKS 89A-041.76 (khổ giấy A4), ký hiệu A1 và chữ ký, chữ viết ghi rõ họ, tên Trần Sỹ M, màu mực xanh trên BẢNG GIÁ/BẢNG TÍNH TIỀN/BIÊN BẢN GIAO NHẬN CHO THUÊ XE Ô TÔ BKS 89A-041.76 (khổ giấy A4), ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên Trần Sỹ M, màu mực xanh trên bản hợp đồng vay nhận tiền, cầm đồ (khổ giấy A5) ký hiệu M là do cùng một người viết ra.

Hoàn lại mẫu giám định: Toàn bộ các tài liệu cần giám định và tài liệu mẫu so sánh hiện lưu trữ trong hồ sơ.

Về vật chứng vụ án: Ngày 09/8/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô Huyndai Grain I10 biển số đăng ký 89A-041.76; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô cho ông Đoàn Văn Trác, ông Trác nhận xe và các giấy tờ trên không yêu cầu đề nghị gì.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Mỹ khai sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình bỏ trốn Mỹ đã làm rơi nên Cơ quan điều tra không quản lý được.

Còn đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X, 01 căn cước công dân quản lý của Mỹ. Quá trình điều tra, Mỹ khai không sử dụng điện thoại và giấy tờ trên vào việc phạm tội, Mỹ đề nghị được nhận lại tài sản và giấy tờ này.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Đường yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 140.000.000đ; Ông Đoàn Văn Trác tự nguyện không yêu cầu bị cáo Mỹ phải bồi thường tiền mất thu nhập trong thời gian không cho thuê chiếc xe ô tô.

Anh Hoàng Đức Huy, anh Trần Đình Quân, anh Trương Minh Hữu, anh Tạ Đức Vạn, anh Nguyễn Thành Bắc, anh Đỗ Hồng Biên, anh Vương Quốc Phong, anh Đặng Văn Thuỵ và anh Lưu Ngọc Hùng đều không yêu cầu đề nghị gì về số tiền đã bỏ ra mua xe.

Quá trình điều tra bị cáo Trần Sỹ M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, trong thời gian bỏ trốn Mỹ không vi phạm gì.

Tại bản cáo trạng số: 103/CT-VKSMH ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y đã truy tố bị cáo Trần Sỹ M về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay: Vắng mặt bị hại là ông Nguyễn Văn Đường; Vắng mặt toàn bộ những người làm chứng trong vụ án;

Bị cáo Trần Sỹ M, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đoàn Văn Trác và đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vì những người vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Bị cáo Trần Sỹ M thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Trần Sỹ M và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Sỹ M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

* Xử phạt: Bị cáo Trần Sỹ M từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/8/2024.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone X, 01 căn cước công dân số 033095001789 mang tên Trần Sỹ M do Cục cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 12/08/2021.

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Trần Sỹ M phải bồi thường trả ông Nguyễn Văn Đường số tiền 140.000.000đ mà bị cáo đã chiếm đoạt;

* Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

* Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không có quan điểm gì tranh luận về quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào, Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2- Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo Trần Sỹ M trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng; vật chứng đã thu giữ, bản ảnh cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: “Với động cơ mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngày 19/02/2022 tại số nhà 36, đường Đỗ Thế Diên, tổ dân phố Phố Nối, phường Bần Yên Nhân, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y. Trần Sỹ M đã ký hợp đồng thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10, biển số đăng ký 89A-04176 của ông Đoàn Văn Trác. Sau đó Mỹ dùng thủ đoạn gian dối mang chiếc xe đến cầm cố cho ông Nguyễn Văn Đường và đã chiếm đoạt được số tiền 140.000.000đ của ông Đường rồi bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 19/8/2024 Mỹ ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên”. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Trần Sỹ M về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

3- Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai: Bị cáo thuê một nam thanh niên giả làm ông Trác. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được nên chưa có căn cứ để xử lý, sau này nếu xác minh làm rõ được có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định nên Hội đồng xét xử xác định: Trong vụ án này bị cáo phạm tội độc lập. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với động cơ, mục đích tư lợi cá nhân, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tội phạm đã hoàn thành. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên buộc phải nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Bị cáo khai nhận mục đích bị cáo làm giả bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Văn Trác là để nhằm mục đích lừa dối, chiếm đoạt nốt số tiền 90.000.000đ của ông Nguyễn Văn Đường (người cầm cố tài sản) chứ không nhằm mục đích lừa dối để chiếm đoạt tài sản của chủ tài sản là ông Đoàn Văn Trác nên bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của ông Nguyễn Văn Đường; Hành vi nêu trên của bị cáo đã gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân mà đặc biệt là đối với những người kinh doanh cho thuê tài sản, hành vi này gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây thiệt hại về tài sản của người khác.

Bị cáo là người có nhân thân rất xấu: Ngày 17/9/2015 bị Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; Ngày 18/12/2019 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đến ngày 18/06/2021 bị cáo mới chấp hành xong toàn bộ bản án, chưa được xoá án tích thì đến ngày 19/02/2022 bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Văn Đường với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái Phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Hơn nữa, ngày 17/12/2024 bị cáo tiếp tục bị Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Y xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 171/2024/HS-ST nên cần phải xử nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Đối với hành vi bị cáo làm giả bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Văn Trác. Hội đồng xét xử xét thấy đây chỉ là giấy tờ cá nhân phô tô không có dấu đỏ nên không phải là hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức mà xác định đây là một trong những thủ đoạn gian dối của bị cáo để nhằm mục đích chiếm đoạt nốt số tiền 90.000.000đ của người nhận thế chấp tài sản là ông Nguyễn Văn Đường nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là phù hợp.

Đối với đối tượng bị cáo khai bị cáo thuê giả làm ông Trác, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã rà soát, xác minh nhưng không làm rõ được nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.

Quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Văn Đường là người cầm cố chiếc xe ô tô của bị cáo, anh Nguyễn Văn Tiến, anh Hoàng Đức Huy, anh Trần Đình Quân, anh Trương Minh Hữu, anh Tạ Đức Vạn, anh Nguyễn Thành Bắc, anh Đỗ Hồng Biên, anh Vương Quốc Phong, anh Đặng Văn Thuỵ và anh Lưu Ngọc Hùng là những người đã mua và bán lại xe ô tô trên nhưng đều không biết chiếc xe ô tô trên là tài sản do bị cáo Mỹ phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

Ông Nguyễn Văn Đường là người kinh doanh dịch vụ cầm đồ, ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên cơ quan điều tra sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

4- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập, hiện đang bị giam giữ nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo sẽ không có khả năng thi hành án. Hội đồng xét xử sẽ miễn, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

5- Về biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X đã qua sử dụng bên trong có lắp sim là tài sản hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào và 01 căn cước công dân số 033095001789 mang tên Trần Sỹ M do Cục cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 12/08/2021 là giấy tờ tuỳ thân hợp pháp của bị cáo đang quản lý tại hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo xin được nhận lại tài sản và giấy tờ tuỳ thân này nên sẽ trả lại cho bị cáo theo quy định.

6- Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 140.000.000đ mà bị cáo đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn Đường. Quá trình điều tra và tại phiên toà ông Đường yêu cầu bị cáo Mỹ phải hoàn trả ông số tiền này. Xét thấy yêu cầu này của ông Đường phù hợp với quy định của pháp luật nên sẽ buộc bị cáo Trần Sỹ M phải có trách nhiệm bồi thường trả ông Đường số tiền đã chiếm đoạt của ông Đường theo quy định;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Văn Trác xác định chiếc xe ô tô kể trên là tài sản cá nhân của ông Trác, trong quá trình điều tra và tại phiên toà ông Trác tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền mất thu nhập trong thời gian không cho thuê chiếc xe ô tô kể trên được; Các anh Hoàng Đức Huy, Trần Đình Quân, Trương Minh Hữu, Tạ Đức Vạn, Nguyễn Thành Bắc, Đỗ Hồng Biên, Vương Quốc Phong, Đặng Văn Thuỵ và anh Lưu Ngọc Hùng cũng đều không yêu cầu đề nghị gì về số tiền đã bỏ ra mua xe. Đến nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người này không ai có ý kiến hay đề nghị gì khác nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Sau này nếu có yêu cầu và có căn cứ sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định.

7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Sỹ M.

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Sỹ M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

* Xử phạt: Bị cáo Trần Sỹ M 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/8/2024.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone X (Có đặc điểm như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào), 01 căn cước công dân số 033095001789 mang tên Trần Sỹ M do Cục cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 12/08/2021.

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Trần Sỹ M phải bồi thường trả ông Nguyễn Văn Đường số tiền 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng);

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành nếu bị cáo chậm thi hành khoản tiền bồi thường thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.

* Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Sỹ M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ