vanban.org

Bản án 02/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 10/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1]. Căn cứ khoản 1, 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/09/2024.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Tuấn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 02/2025/HSST
Ngày: 10/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Hùng

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 10/12/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh ngày 12/06/1989, nơi sinh tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 (chết) và bà Đặng Thị H, sinh năm 1962; Anh, chị em ruột: 04 người (02 nam, 02 nữ), lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1992; có vợ là Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1987 và 01 con Nguyễn Minh T, sinh năm 2010; tiền sự: Không, tiền án: 03 lần:

- Tại bản án số 33/2016/HSST, ngày 19/08/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

- Tại bản án số 26/2018/HSST, ngày 22/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

- Tại bản án số 42/2021/HSST, ngày 08/07/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

Về nhân thân: Ngày 25/02/2020, bị cáo bị Phòng Cảnh sát quản lý hành chính - Công an tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000đ, chấp hành xong ngày 12/03/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/09/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Tổng công ty điện lực A

Địa chỉ: Số 72, HBT, Phường B, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật của Tổng công ty: Ông Nguyễn Phước Đ – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn K – Chức vụ: Giám đốc điện lực Tam Bình (Theo văn bản ủy quyền số 12279/GUQ-EVNSPC, ngày 25/12/2024, có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Đặng Thị H, sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Người làm chứng: 1/Ông Huỳnh Văn G, sinh năm 1974 (vắng mặt)

2/Ông Huỳnh Trí N, sinh năm 1965 (vắng mặt)

3/Ông Hồ Văn N, sinh năm 1970 (vắng mặt)

4/Bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1989 (vắng mặt)

5/Bà Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp C, xã D, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 20/9/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng Công an xã T, huyện Tam Bình bắt quả tang đối tượng Nguyễn Minh T đang cuộn dây điện loại dây cáp đồng trần vừa cắt trộm được. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) đoạn dây cáp đồng trần loại C22mm2 có chiều dài 22,65mét, trọng lượng 4,635kg; 01 (một) đoạn dây cáp đồng trần loại C22mm2 có chiều dài 10,35mét, trọng lượng 2,065 kg; 01 (một) đoạn dây cáp đồng trần loại C22mm2 có chiều dài 5,50mét, trọng lượng 1,095 kg. Tổng cộng 03 đoạn dây có chiều dài 38,50mét, trọng lượng là 7,795 kg.

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận vào khoảng 08 giờ ngày 20/9/2024 T thuê xe đi từ nhà đến thành phố Vĩnh Long để uống thuốc điều trị ma túy, khi đến địa điểm uống thuốc tại Trung tâm Y tế Vĩnh Long thì T gặp một thanh niên không rõ họ, tên, địa chỉ, T chỉ biết tên là “Bồ Ken” cũng đi uống thuốc như T. Sau khi uống thuốc xong thì cả hai rủ nhau đi cắt trộm dây điện để bản lấy tiền tiêu xài, sau đó người thanh niên chở T bằng xe Wave màu đỏ (không nhớ biển số) đi từ Vĩnh Long theo Quốc lộ 53 hướng về ngã ba Long Hiệp, khi đến đoạn đường vắng người và có nhiều cây tạp thuộc ấp C, xã D, huyện Tam Bình thì cả hai dừng lại, người thanh niên ngồi trên xe cảnh giới, T thì đi bộ vào khu vườn của người dân cách lộ khoảng 05 mét, T trèo lên cây măng cụt cạnh trụ điện và dùng cây kiềm mang theo trong người cắt đứt một đoạn dây điện loại dây cáp bằng đồng để đoạn dây rơi xuống đất, tiếp đó T đi lại phía cây trụ điện đối diện để cắt đầu dây còn lại. Khi cắt xong, T dùng kiềm chia đoạn dây vừa cất được thành ba đoạn ngắn để mang đi, trong lúc cuộn dây điện thì nghe người dân truy hô ăn trộm thì người thanh niên đi cùng bỏ chạy, T chạy bộ ra hướng mé sông rồi quăng cây kiềm xuống sông, sau đó T bị Công an và người dân bắt giữ.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 39/KL.ĐGTS ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình, kết luận đoạn dây điện loại dây cáp bằng đồng trần C22mm2 tổng chiều dài 38,50mét, tổng trọng lượng là 7,795kg có giá trị là 1.481.000đ.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình chứng minh Nguyễn Minh T còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 29/08/2024 T lấy xe mô tô hiệu Pusan màu đỏ, biển số 64E1-646.06 của mẹ ruột T là bà Đặng Thị Hai, sinh năm 1962, HKTT: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long để đi tìm tài sản lấy trộm, khi đi ngang đoạn đường thuộc ấp C, xã D thì T biết đoạn đường này có đường dây điện bằng đồng nên nảy sinh ý định cắt trộm để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T chạy đến đoạn đường gần cầu Cái Sơn Bé thì thấy văng người nên quyết định trộm tại đoạn đường này, T dừng xe lại, lấy cái kiềm chuẩn bị sẵn đem theo, đi vào khu đất trống giữa cái nhà hoang và vườn chuối rồi T dùng kiềm cắt đứt 01 đoạn dây điện bằng dây cáp đồng trần loại C50mm2 giữa hai cây trụ điện, đoạn dây điện bị cắt dài 27,9 mét, trọng lượng là 12,5 kg. Sau đó, T tiếp tục dùng kiềm cắt đoạn dây điện thành hai đoạn nhỏ rồi quấn cuộn lại. Tiếp đó, T đem 02 cuộn dây điện ra để lên xe mô tô chuẩn bị chạy về hướng cầu Cái Sơn Bé thì bị lực lượng Công an xã B đi tuần tra phát hiện truy bắt, T chạy đến đoạn vừa qua cầu Cái Sơn Bé thì bị bắt giữ cùng tang vật là 02 cuộn dây điện vừa mới cắt trộm được. T khai nhận trong quá trình bị truy bắt T đã vứt cái kiềm T dùng để cắt dây điện trong bụi cây ven đường, nhưng không nhớ chính xác vị trí đã vứt bỏ. Tang vật thu giữ gồm: 02 (hai) đoạn dây cáp đồng trần loại C50mm có tổng chiều dài 27,9mét, trọng lượng 12,5 kg; 01 (một) xe mô tô hiệu Pusan màu đỏ, biển số 64E1-646.06 do Nguyễn Minh Tuân điều khiển để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 40/KL.ĐGTS ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình, xác định 02 đoạn dây điện loại dây cáp bằng đồng trần C50mm2, tổng chiều dài 27,9mét, trọng lượng là 12,5kg có giá trị bình quân thị trường là 2.375.000đ.

Tại Bản Cáo trạng số 120/CT-VKSTB ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa: Sau khi kiểm tra đầy đủ các tài liệu, chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo Nguyễn Minh T đã thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản thân bị cáo có tiền án, nhưng lại phạm tội nhiều lần và tái phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có khắc phục bồi thường cho bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 02 năm đến 02 năm, 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/09/2024 cho đến nay.

Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 5.484.000đ. Bị cáo đã khắc phục được số tiền 2.000.000đ, nên còn phải bồi thường số tiền còn lại là 3.484.000đ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, truy tố đã trả xong, nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện bị hại có ông Nguyễn Văn Khoảnh trình bày: Hệ thống dây điện cáp tại thời điểm bị cáo cắt đứt như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố vẫn đang hoạt động và phục vụ sinh hoạt, kinh doanh cho người dân trên địa bàn. Đây là tài sản đặc thù của ngành điện lực phải thay dây thì mới hoạt động được nên để khắc phục nhanh chóng nguồn điện cho người dân sử dụng, bị hại đã chủ động mua thiết bị dây mới và khắc phục đường dây bị thiệt hại, nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.848.000đ, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đặng Thị Hai trình bày, bị cáo phạm tội bà không biết, khi Cơ quan tố tụng thông báo cho bà biết và có gặp bị cáo thì bị cáo nói bà khắc phục hậu quả để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bà khắc phục cho bị cáo số tiền 2.000.000đ, không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đối với việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng này.

[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, ngoài ra vụ án còn phù hợp các biên bản hoạt động điều tra như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu hồi vật chứng, biên bản ghi lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản ghi lời khai người làm chứng, biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung của bị cáo nên có căn cứ kết luận: Vào các ngày 29/08/2024, ngày 20/09/2024, bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi cắt trộm 01 đoạn dây điện loại cáp bằng đồng trần C50mm2, tổng chiều dài 27,9m, trọng lượng là 12,5kg có giá là 2.375.000đ tại ấp 1, xã Hòa Thạnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long và 01 đoạn dây điện loại dây cáp bằng đồng trần C22mm2, tổng chiều dài 38,50m, tổng trọng lượng là 7,795kg có giá là 1.481.000đ tại ấp Mỹ Quới, xã Mỹ Thạnh Trung, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long của Tổng công ty điện lực Miền Nam hiện do điện lực Tam Bình quản lý.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ dây điện hạ thế loại cáp bằng đồng trần để đấu nối giữa các trụ điện để cung cấp đấu nối vào nhà người dân sử dụng là tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, việc cắt đứt dây bằng đồng trần không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật, làm gây ảnh hưởng đến điện áp của dòng điện và có thể làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, hoạt động, sản xuất kinh doanh của người dân trên địa bàn ấp 1, xã Hòa Thạnh và ấp Mỹ Quới, xã Bcùng thuộc địa bàn huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nơi tuyến dây điện hạ thế đi qua. Thời điểm phạm tội bị cáo trong người lại đang điều trị ma túy, lẽ ra phải biết giữ mình, cố gắng chữa trị để tái hòa nhập cộng đồng, giúp đỡ gia đình, đằng này vì muốn có tiền nhanh để sử dụng ma túy nên thúc đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung xã hội.

[4]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Sau khi phạm tội bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có khắc phục, bồi thường cho bị hại, nên cần xem xét đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Bị cáo bản thân có nhiều tiền án chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời bị cáo lại tiếp tục trộm cắp tài sản từ 02 lần trở lên nên thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Không có, nên không đặt ra giải quyết.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 5.484.000đ. Bị cáo đã khắc phục được số tiền 2.000.000đ, nên còn phải bồi thường số tiền còn lại là 3.484.000đ.

Đối với số tiền bà Đặng Thị H khắc phục thay cho bị cáo là 2.000.000đ, số tiền này bà Hai không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[8]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[9]. Đối với các hộ dân sử dụng điện nơi có tuyến dây điện đi qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã tiến hành xác minh và tại phiên tòa đại diện bị hại cũng trình bày chưa có ai có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại gửi đến Điện lực Tam Bình, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[10]. Đối với người có tên là “Bồ Ken” do Nguyễn Minh T khai không biết tên thật và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình không làm việc được, nên đề nghị tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý nếu có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1]. Căn cứ khoản 1, 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/09/2024.

Tuyên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 5.484.000đ. Bị cáo đã khắc phục được số tiền 2.000.000đ đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên lai thu số 0007201, ngày 16/12/2024 nên bị hại liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình nhận số tiền này, bị cáo còn phải bồi thường số tiền còn lại là 3.484.000đ (Ba triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn đồng).

Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[3]. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5]. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ