- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN Đ - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày: 02/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Đoàn Ngọc Thảo
Thư ký phiên tòa: ông Nông Văn Thắng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: ông Đỗ Lâm Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; sinh ngày 03/7/1978 tại tỉnh Tây Ninh; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 00/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Tài L, sinh năm: 1950 (chết); Họ và tên mẹ: Hồ Thị T sinh năm: 1955; Sống chung như vợ chồng với bà Pham Ngọc K (chưa đăng ký kết hôn). Bị cáo 01 con: Nguyễn Ngọc H sinh năm: 2022; Bị cáo có 02 người em sinh năm 1989 và năm 1992; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/11/2024 đến ngày 27/11/2024 được tại ngoại đến nay – có mặt.
- Người chứng kiến: Trần Đăng N, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ làm nghề cạo mủ cao su thuê, có quen một người thanh niên (không rõ nhân thân thân, lai lịch). Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 23/11/2024 trong lúc đi mót mủ cao su tại ấp T, xã P thì Đ gặp lại người thanh niên này và hỏi Đ có muốn mua pháo nổ về sử dụng trong dịp Tết Nguyên Đán năm 2025 hay không. Đ nhận lời và đặt mua 07 hộp pháo loại 49 và 03 hộp pháo loại 100 với giá 2.500.000 đồng. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/11/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển số 93C1-220.30 đi từ nhà ở ấp X, xã T, huyện H đến ngủ ở nhà của bà Phạm Kim N tại Thôn 4, xã T, huyện B đến khoảng 00 giờ 05 phút thì Đ điều khiển xe mô tô chạy vào lô cao su ở ấp T, xã P, huyện B gặp người thanh niên lấy pháo đã được cất giấu tại bụi cây gần lô cao su. Đ kiểm tra pháo và trả 2.500.000 đồng cho người thanh niên, sau đó Đ bỏ 02 hộp pháo loại 49 vào bịch nilông màu đen để vào trong cốp xe mô tô, 03 hộp loại 100 và 04 hộp loại 49 vào trong ba lô màu đỏ đen đề ở gác baga phía trước xe mô tô để vận chuyển về nhà. Khi Đ đang điều khiển xe mô tô vận chuyển số pháo trên đến đoạn đường ĐT759B thuộc ấp T, xã T, huyện B thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số pháo nổ trên với tổng khối lượng 19,5kg [Bút lục số 15-16, 65-67].
Tại bản kết luận giám định số 1301/KL -KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước xác định: Toàn bộ số pháo gửi giám định đều là pháo hoa nổ, có chứa thuốc pháo, khi đố tbay lên cao, nổ ríc và phát ra ánh sáng nhiều màu. Tổng khối lượng là 19,5kg ( mười chín phẩy năm kilogam).
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS ngày 17/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoài Nhật về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như trong nội dung Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự và đề xuất xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung, do công việc bị cáo làm thuê, mót mủ cao su, công việc và thu nhập không ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng:
Khối lượng pháo nổ sau giám định còn lại 10,5kg (mười phẩy năm kilogam) đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 (Một) ba lô, màu đỏ đen, kích thước 60cm x 45cm; 01 (một) bịch ni lông màu đen, kích thước 55 cm x 40 cm không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01(Một) xe mô tô (một) xe mô tô nhãn hiệu vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát 93C1-220.30, số khung: 5811JY024291, số máy: JF66E1099098; là xe của Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sở hữu hợp pháp, bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Không để cập xử lý.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Quyết định truy tố của đại diện VKSND huyện Bù Đốp đã công bố, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Đại diện VKSND huyện Bù Đốp và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Bù Đốp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung: Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 24.11.2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 93C1-220.30 đi đến lô cao su ở ấp T, xã P, huyện B gặp và mua 07 hộp pháo loại 49 và 03 hộp pháo loại 100 với giá 2.500.000đồng từ người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch). Sau khi trả tiền và lấy pháo nổ. Đ bỏ 02 hộp pháo loại 49 vào bịch nilông màu đen để vào trong cốp xe mô tô, 03 hộp loại 100 và 04 hộp loại 49 vào trong ba lô màu đỏ đen đề ở gác baga phía trước xe mô tô để vận chuyển về nhà ở huyện H, tỉnh Bình Phước. Trên đường về Đ bị Công an kiểm tra bắt giữ. Công an thu giữ toàn bộ số pháo nổ trên với tổng khối lượng 19,5kg và 01 xe mô tô.
Tại bản kết luận giám định số 1301/KL -KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước xác định: Toàn bộ số pháo gửi giám định đều là pháo hoa nổ, có chứa thuốc pháo, khi đố tbay lên cao, nổ ríc và phát ra ánh sáng nhiều màu. Tổng khối lượng là 19,5kg ( mười chín phẩy năm kilogam).
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ Luật hình sự 2015. Do vậy, nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-BĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết nhà nước nghiêm cấm việc vận chuyển, mua bán, sử dụng pháo nổ do nước ngoài sản xuất trái phép, việc vận chuyển trái phép pháo nổ là vi phạm pháp luật, sẽ xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ, sẽ bị pháp luật xử lý. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo không biết chữ nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo là lao động nghèo phải làm thuê thu nhập không ổn định, phải mót mủ cao su để kiếm thêm thu nhập, chỉ vì để thỏa mãn niềm vui cá nhân, đốt pháo trong dịp tết nguyên đán mà bị cáo đã sử dụng số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền này là lớn so với thu nhập của bị cáo chỉ để mua 09 bệ pháo hoa nổ (khối lượng19,4kg) với mục đích sử dụng trong dịp tết nguyên đán. Điều này thể hiện độ chấp hành pháp luật, trách nhiệm của bị cáo đối với bản thân bị cáo, gia đình và xã hội là không cao nên cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về vật chứng:
Khối lượng pháo nổ sau giám định còn lại 10,5kg (mười phẩy năm kilogam). Xét đây là hàng cấm nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 (một) ba lô, màu đỏ đen, kích thước 60cm x 45cm; 01 (một) bịch ni lông màu đen, kích thước 55 cm x 40 cm, xét tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô (một) xe mô tô nhãn hiệu vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát 93C1-220.30, số khung: 5811JY024291, số máy: JF66E1099098; là xe của Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sở hữu hợp pháp, bị cáo Đ sử dụng vào việc thực hiện phạm tội tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động nghèo thu nhập không ổn định nên chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.
Các vấn đề khác
Người thanh niên bán pháo cho bị cáo Đ chưa xác định được nhân thân lại lịch, nên Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.
Xét đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”,
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09(Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2024 đến ngày 27/11/2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động nghèo, thu nhập không ổn đinh nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[2] Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Tịch thu tiêu hủy 10,5kg (Mười phẩy năm kilogam) pháo nổ còn lại sau giám định được niêm phong.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ba lô, màu đỏ đen, kích thước 60cm x 45cm; 01 (một) bịch ni lông màu đen, kích thước 55 cm x 40 cm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô (một) xe mô tô nhãn hiệu vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát 93C1-220.30, số khung: 5811JY024291, số máy: JF66E1099098 của bị cáo Nguyễn Văn Đ.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0007960 ngày 18/12/2024 giữa cơ quan CSĐT công an huyện Bù Đốp và Chi cục THADS huyện Bù Đốp
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đốp; - Công an huyện Bù Đốp; - Chi cục THADS huyện Bù Đốp; - Các bị cáo; - Các đương sự; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Ngọc Thảo |