vanban.org

Bản án 02/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tẩn San M phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Về vật chứng: Căn cứ căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 túi vải đeo hình chữ nhật kích thước 22 x 18 cm có hoạ tiết hoa văn thổ cẩm, thu giữ của bị cáo. Án phí: Bị cáo Tẩn San M được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn San M trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tẩn San M phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HSST
Ngày 20 tháng 01 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tưởng Thị Tuyết;

2. Bà Vũ Thị Thúy Bình;

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/HSST ngày 07/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Tẩn San M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ. Sinh ngày 16/8/1975; Nơi sinh: Tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn S, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Con ông Tẩn Duần Sinh (đã chết) và bà Tẩn San M (đã chết); Chồng: Tẩn Phù Vùi, sinh năm 1970. Con bị cáo có 03 con, lớn nhất 1990, nhỏ nhất 1998. Nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/11/2024, tạm giam ngày 27/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Người bào chữa cho bị cáo:Bà Nguyễn Thị Hương Thủy trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Bị hại: Chị Tráng Thị L, sinh ngày 08/3/2004.

Địa chỉ: thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 18/11/2024, Tẩn San M cùng chồng là Tẩn Phù V đi từ nhà tại thôn S, xã M, huyện B xuống trạm y tế xã Mường Hum, huyện Bát Xát để uống thuốc Methadone. Đến khoảng 7 giờ, Tẩn San M cùng Tẩn Phù V đến chợ Mường Hum và ngồi hút thuốc lào, lúc này Mẩy phát hiện trên sạp hàng quần áo của chị Tráng Thị L, sinh năm 2004, trú tại thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát có 01 chiếc điện thoại di động IPHONE 15 PROMAX, có ốp bảo vệ màu xám – đen nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Tẩn San M quan sát không có ai, Mẩy dùng tay phải cầm chiếc điện thoại cho vào túi vải có hoạ tiết hoa văn thổ cẩm đang đeo trên người. Sau đó, Tẩn San M cùng Tẩn Phù Vùi lên trạm y tế xã Mường Hum uống thuốc Methadone rồi về nhà, Tẩn San M cất giấu chiếc điện thoại trên giường ngủ. Đến khoảng 09 giờ, cùng ngày Công an xã Mường Hum đến đưa Tẩn San M về trụ sở làm việc, tại đây Tẩn San M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại chiếc điện thoại.

Kết luận định giá tài sản số 11/KL.HĐĐG ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bát Xát xác định: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, có ốp nhựa màu xám đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 24.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 03/CT - VKSBX ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Tẩn San M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản Cáo trạng. Đề nghị hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Tẩn San M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt đối với bị cáo Tẩn San M từ 09 tháng đến 15 tháng tù.

-Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Tráng Thị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 túi vải đeo hình chữ nhật kích thước 22 x 18 cm có hoạ tiết hoa văn thổ cẩm.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Tẩn San M không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo Tẩn San M thuộc gia đình hộ nghèo, vì vậy áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm:

Tuyên bố bị cáo Tẩn San M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Tẩn San M từ 6 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị giải quyết theo qui định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Tẩn San M thành khẩn khai báo, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử, xử mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Tẩn San M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.

Như vậy Tẩn San M lợi dụng sự sơ hở của người khác, tài sản không có người trông coi đã cầm chiếc điện thoại di động IPHONE 15 PROMAX, có ốp bảo vệ màu xám – đen của chị Tráng Thị L để trên sạp quần áo cho vào túi vải thổ cẩm đeo trên người và đi về nhà. Hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản, như vậy bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản, tài sản bị cáo trộm cắp là chiếc điện thoại IPHONE 15 PROMAX, có ốp bảo vệ màu xám – đen, theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự có giá trị 24.000.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương. . .

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, khi phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s, h, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Đối với quan điểm của người bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo mức án là 6 tháng tù theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, xét thấy là chưa phù hợp vì tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị là 24.000.000 đồng, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, đang trong thời gian uống Methadone.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Tráng Thị L đã nhận lại tài sản là 01 chiếc IPHONE 15 PROMAX, có ốp bảo vệ màu xám – đen 19/12/2024, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự; vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về vật chứng:

-. Quá trình điều tra đã xác định điện thoại trên là tài sản của chị Tráng Thị L nên ngày 19/12/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Tráng Thị L 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, có ốp nhựa màu xám

- đen là đúng quy định của pháp luật.

- 01 túi vải đeo hình chữ nhật kích thước 22 x 18 cm có hoạ tiết hoa văn thổ cẩm, thu giữ của bị cáo, xét thấy khi bị cáo trộm cắp chiệc điện thoại đã cất giấu chiếc điện thoại vào trong túi thổ cẩm, đây là công cụ phạm tội, vật chứng của vụ án, túi đã qua sử dụng, tại phiên tòa bị cáo xác nhận vật không có giá trị, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Tẩn San M có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ vào đơn xin miễn án phí và Giấy chứng nhận hộ nghèo hộ cận nghèo số 105/GCN-HN.HCN ngày 02/01/2025 do Ủy ban nhân dân xã Mường Hum, huyện Bát Xát cấp thì bị cáo Tẩn San M là hộ nghèo.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Tẩn San M được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Tẩn San M phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tẩn San M 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 18 tháng 11 năm 2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 túi vải đeo hình chữ nhật kích thước 22 x 18 cm có hoạ tiết hoa văn thổ cẩm, thu giữ của bị cáo.

3. Án phí: Bị cáo Tẩn San M được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ