vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 21/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS-ST - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 21-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Nghị

Bà Hoàng Thị Thu Lâm

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại Nhà văn hóa tổ dân phố Hưng Lợi, phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà lưu động công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/HSST ngày 19/12/2024, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST- HS ngày 09/01/2025 đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Tiến Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/8/2004, tại phường Kỳ T, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố Tây Y, phường Kỳ T, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông Nguyễn H, sinh năm 1967 và con bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1970, trú tại phường Kỳ T, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/7/2020, bị Công an thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ra Q định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Q định số 000360/QĐ-XPHC, bằng hình thức “Cảnh cáo”, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 11/10/2024, đến ngày 18/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị cáo: Nguyễn Văn K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/11/1988, tại xã Ninh H, huyện Hoa L, tỉnh Ninh Bình; Nơi thường trú: thôn Áng N, xã Ninh H, huyện Hoa L, tỉnh Ninh Bình; Chổ ở hiện nay: Tổ dân phố Đông T, phường Kỳ T, thị xã Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Thu mua phế liệu; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959 và con bà Đàm Thị T, sinh năm 1963, trú tại xã Ninh H, huyện Hoa L, tỉnh Ninh Bình; Vợ Lê Thị N, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố Đông T, phường Kỳ T, thị xã Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh; Con: 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2013, đứa nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 18/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến Q: Bà Phan Ngọc T và bà Nguyễn Thị P T - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

* Bị hại: Công ty TNHH bảo trì đường bộ Miền T; Địa chỉ: Phường Lê L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh B - Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình A, sinh năm 1985 - Chức vụ: Hạt trưởng Hạt quản lý đường bộ Đèo N; Địa chỉ: Thôn Minh S, xã Quảng Đ, huyện Quảng T, tỉnh Quảng Bình (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1994; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: TDP Tây Y, phường Kỳ T, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

- Chị Lê Thị N, sinh năm 1989; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: TDP Đông T, phường Kỳ T, thị xã Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 04/10/2024, Nguyễn Tiến Q điều khiển xe mô tô BKS: 38K1-519... (xe mượn của chị dâu Nguyễn Thị P để đi chơi) kéo theo xe lôi tự chế đi trộm cắp tài sản. Khoảng 02 giờ sáng ngày 05/10/2024, khi đi đến Hầm đường bộ Đèo Ng, thuộc xã Kỳ N, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thấy các hố trên hành lang đường hầm có nắp đậy bằng tấm kim loại nên Nguyễn Tiến Q bê 06 tấm kim loại trên miệng hố đưa lên xe lôi, sau đó chở về cửa hàng thu mua phế liệu của Nguyễn Văn K, tại tổ dân phố Đông T, phường Kỳ T, thị xã Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh để bán sắt phế liệu. Sau khi gặp nhau, Nguyễn Tiến Q nói với Nguyễn Văn K là cần bán sắt phế liệu thì Nguyễn Văn K nói mua với giá 7.500đ/kg, Q không mặc cả về giá cả mà đồng ý ngay. Nguyễn Tiến Q và Nguyễn Văn K bốc cả 06 tấm kim loại trên xe lôi xuống cân được khoảng 200kg, thành tiền 1.500.000 đồng; đồng thời Nguyễn Tiến Q bán luôn chiếc xe lôi của mình cho K với giá 750.000 đồng. Nguyễn Văn K chuyển khoản trả cho Nguyễn Tiến Q 2.250.000đồng. Khi mua sắt phế liệu Nguyễn Văn K thấy Nguyễn Tiến Q bán vào đêm khuya, với thái độ lén lút, lo sợ; mặt khác những tấm sắt đang còn mới, là hàng đặc chủng, không giống với những tấm sắt phế liệu thông thường, đồng thời khi bán Nguyễn Tiến Q không mặc cả về giá cả nên Nguyễn Văn K biết đó là những tấm sắt do Nguyễn Tiến Q trộm cắp mà có.

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 07/10/2024, Nguyễn Tiến Q tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 38K1-519..., kéo theo chiếc xe lôi tự chế khác đi vào Hầm Đèo Ng để lấy trộm các tấm kim loại. Nguyễn Tiến Q lấy 12 tấm kim loại đậy trên các miệng hố chứa hệ thống cấp điện cho đường hầm đưa lên xe lôi, chở về cửa hàng thu mua phế liệu của Nguyễn Văn K bán. Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến cửa hàng thu mua phế liệu của Nguyễn Văn K, chờ một lúc không thấy K thức dậy nên Q để xe lôi có các tấm kim loại ở gần đống sắt vụn một bên nhà K rồi về nhà. Sáng sớm thức dậy Nguyễn Văn K nhìn thấy chiếc xe lôi dựng bên đống sắt vụn và trên xe có các tấm kim loại giống như lần trước Nguyễn Tiến Q đem bán. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Tiến Q đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của Nguyễn Văn K để bán các tấm kim loại lấy trộm được. Sau khi cân các tấm kim loại được khoảng hơn 300kg, Nguyễn Tiến Q và Nguyễn Văn K thống nhất giá bán 7.500 đồng/kg, K trả cho Q số tiền 2.550.000đ. Do tiền trong tài khoản của mình không đủ nên Nguyễn Văn K lấy điện thoại của vợ là chị Lê Thị N, chuyển khoản từ tài khoản của chị Nguyệt số tiền 2.550.000 đồng cho Nguyễn Tiến Q. Số tiền bán tài sản trộm cắp được, Nguyễn Tiến Q đã chi tiêu cá nhân hết. Cũng như lần trước, Nguyễn Văn K biết Nguyễn Tiến Q đưa sắt đến từ khi đêm, các tấm sắt giống như lần trước, là hàng đặc chủng, không giống với những tấm sắt phế liệu thông thường; đồng thời khi bán Nguyễn Tiến Q không mặc cả về giá cả nên Nguyễn Văn K biết rõ là tài sản do Nguyễn Tiến Q trộm cắp mà có.

Sau khi sự việc bị phát hiện, ngày 11/10/2024, Nguyễn Tiến Q đến Công an thị xã Kỳ Anh đầu thú. Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Văn K bị Công an triệu tập đến làm việc thì Nguyễn Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình.

18 tấm kim loại Nguyễn Tiến Q trộm cắp nêu trên có tổng khối lượng 535,1kg, là tài sản của Công ty TNHH bảo trì đường bộ Miền T. Tại bản kết luận định giá số 41/KL-HĐĐG ngày 14/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 18 tấm kim loại có tổng trị giá là 9.025.80 0đồng, trong đó: 06 tấm kim loại Nguyễn Tiến Q lấy trộm vào ngày 05/10/2024, có trị giá là 3.028.000 đồng và 12 tấm kim loại lấy trộm vào ngày 07/10/2024, có trị giá là 5.997.800đồng.

* Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh đã thu giữ: Thu giữ từ Nguyễn Văn K 13 tấm kim loại mặt gân chống trơn trượt, kích thước (120x80)cm, khối lượng 27.5 kg/tấm; 01 tấm kim loại có hàn khung, kích thước (116x70)cm, khối lượng 42 kg/tấm; 01 tấm kim loại có hàn khung, kích thước (118x75)cm, khối lượng 44kg/tấm; 01 tấm kim loại có hàn khung, kích thước (114x69)cm, khối lượng 40 kg/tấm; 01 tấm kim loại có hàn khung, kích thước (114x69)cm, khối lượng 26.8 kg/tấm; 01 tấm kim loại có hàn khung, kích thước (110x69)cm, khối lượng 24.8 kg/tấm và 01 chiếc cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hoà, màu xanh, loại 100kg, đều đã qua sử dụng. Hiện 18 tấm kim loại nêu trên đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH bảo trì đường bộ Miền T, còn chiếc cân đồng hồ chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý.

Đối với xe mô tô BKS: 38K1-519... Nguyễn Tiến Q sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị Nguyễn Thị P đã bán cho một người không rõ họ tên, địa chỉ; chiếc xe lôi Nguyễn Tiến Q sử dụng để vận chuyển các tấm kim loại lấy trộm vào ngày 05/10/2024, Nguyễn Văn K đã bán cho một người không rõ họ tên, địa chỉ; chiếc xe lôi Nguyễn Tiến Q sử dụng để vận chuyển các tấm kim loại lấy trộm vào ngày 07/10/2024 đã bị Q làm mất và chiếc điện thoại di động của Nguyễn Văn K dùng để chuyển tiền mua bán cho Nguyễn Tiến Q đã bị làm mất không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự: Mặc dù Công ty TNHH bảo trì đường bộ Miền T không yêu cầu các bị cáo bồi thường, tuy nhiên Nguyễn Văn K đã tự nguyện bồi thường số tiền 500.000đ tiền, Nguyễn Tiến Q bồi thường số tiền 200.000đồng là chi phí đưa các tấm sắt về lắp đặt lại tại các miệng hố cấp điện cho đường hầm, nay bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS-TXKA ngày 17/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Tiến Q về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Văn K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh giữ nguyên Q định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt:

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 11/10/2024.

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 323; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, loại 100 kg, đã qua sử dụng, thu của Nguyễn Văn K.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.050.000 đồng thu lợi bất chính từ bị cáo Nguyễn Tiến Q.

Tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến gì tranh luận với Viện kiểm sát. Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến Q đề nghị HĐXX xem xét điều kiện hoàn cảnh khó khăn của gia đình bị cáo, bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tính hợp pháp của Q định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật

Về hành vi phạm tội: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 05/10/2024 và ngày 07/10/2024, tại Hầm đường bộ Đèo Ngang, xã Kỳ Nam, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Tiến Q đã lấy trộm 18 tấm kim loại, là nắp đậy các miệng hố cấp điện cho hầm, của Công ty TNHH bảo trì đường bộ Miền T, với tổng trị giá theo kết luận định giá là 9.025.800 đồng, rồi bán cho Nguyễn Văn K, chủ cửa hàng thu mua phế liệu ở phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh với giá 4.050.000 đồng để chi tiêu cá nhân, trong đó: Ngày 05/10/2024, lấy trộm 06 tấm kim loại, khối lượng 196 kg, trị giá 3.028.000đồng và ngày 07/10/2024, lấy trộm 12 tấm kim loại, khối lượng 339,1kg, trị giá 5.997.800 đồng. Mặc dù Nguyễn Tiến Q đưa sắt đến bán vào đêm khuya, với thái độ lén lút, lo sợ, không mặc cả về giá, không xem cân; mặt khác đây là những tấm sắt đặc chủng, còn mới, biết rõ tài sản do Nguyễn Tiến Q trộm cắp mà có nhưng Nguyễn Văn K vẫn tiêu thụ.

Hành vi trên của Nguyễn Tiến Q đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn K đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử các bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tiến Q và Nguyễn Văn K đều phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên“ theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Tiến Q và Nguyễn Văn K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Tiến Q còn được hưởng tình tiết “Đầu thú”, theo quy định Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo Nguyễn Tiến Q đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản rồi 02 lần có hành vi lén lút chiếm đoạt để bán lấy tiền sử dụng cá nhân. Mặt khác, bị cáo có nhân thân ngày 07/7/2020, bị Công an thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ra Q định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Q định số 000360/QĐ-XPHC, bằng hình thức “Cảnh cáo”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sữa chữa sai lầm mà còn tiếp tục có hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn K, không hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản do Nguyễn Tiến Q bán cho bị cáo là tài sản do phạm tội mà có. Bị cáo đã hai lần tiêu thu tài sản do phạm tội mà có nên hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các lần phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn K đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cần cho bị cáo được hưởng án treo, để có cơ hội sữa chữa sai lầm, hòa nhập với cộng đồng xã hội, thể hiện sự khoan hồng, tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Tiến Q thuộc đối tượng hộ cận nghèo; bị cáo Nguyễn Văn K có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 4.050.000đồng có được từ việc bán tài sản trộm cắp mà có, bị cáo Nguyễn Tiến Q đã tiêu xài cá nhân hết. Mặc dù trước khi mở phiên tòa bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 200.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo tự nguyện chấp nhận nộp toàn bộ số tiền 4.050.000 đồng thu lợi bất chính. Vì vậy, cần phải tịch sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính này từ bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kỳ Anh trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật, nên miễn xét.

Đối với một chiếc cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100 kg, là công cụ bị cáo Nguyễn Văn K đã sử dụng để cân tài sản do Nguyễn Tiến Q phạm tội mà có bán. Theo bị cáo và chị Lê Thị N (vợ bị cáo K) thì chiếc cân này đã sử dụng trong thời gian dài, hiện đã bị hư hỏng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy chiếc cân đồng hồ nêu trên.

Đối với chị Nguyễn Thị P, là người đã cho Nguyễn Tiến Q mượn xe mô tô BKS: 38K1- 519.26 và Q đã sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định khi cho mượn xe chị Phương không biết Nguyễn Tiến Q sử dụng vào việc phạm tội; Đối với chị Lê Thị N đã cho Nguyễn Văn K mượn điện thoại và tài khoản ngân hàng để chuyển tiền cho Nguyễn Tiến Q, chị Nguyệt không biết K tiêu thụ tài sản do Nguyễn Tiến Q phạm tội. Vì vậy, chị Nguyễn Thị P và chị Lê Thị N không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến Q thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Q số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Q ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến Q.

Căn cứ Khoản 1 Điều 323; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K.

Căn cứ Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Q số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 11/10/2024.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/01/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho y ban nhân dân phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi hoặc vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Q định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.050.000 đồng (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính từ bị cáo Nguyễn Tiến Q.

4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) chiếc cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, loại 100 kg, đã qua sử dụng, thu của Nguyễn Văn K.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Tiến Q.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ