- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Bế Văn H phạm tội về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 14/7/2025 Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiệp Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tuấn - Thư ký tòa án Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 185/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 03/7/2025 đối với bị cáo: Bế Văn H, sinh năm 2002; Giới tính: Nam HKTT: Xóm Nà Sao, xã Bế Văn Đàn, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do Con ông: Bế Văn Bảo - Đã chết và nà Bế Thị Niêm, sinh năm 1972 Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba Vợ, con: Chưa có Tiền án, tiền sự: Không Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2025 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần-Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh * Bị hại: Anh Hoàng Anh Tuấn, sinh năm 2003 Địa chỉ: Chợ Bãi 2, xã Yên Phúc, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm, Tòa án nhân dân Khu vực 6-Bắc Ninh | Ngày 14 tháng 7 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh mở |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bế Văn H thuê trọ tại phòng 301 khu nhà trọ Thu Hiền của ông Hoàng Đức Lợi, sinh năm 1979 ở khu Lãm Trại, phường Vân Dương, TP.Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu Lãm Trại, phường Nam Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 05 giờ ngày 15/4/2025, H ngủ dậy và đi từ phòng trọ xuống tầng hầm để xe của tòa nhà. Khi xuống tầng hầm, H thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu đen, BKS 12UA-035.95 của anh Hoàng Anh Tuấn để ở gần cuối tầng hầm. Quan sát xung quanh không có ai trông coi nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại. H tiến đến cầu thang khu trọ nhặt 01 đoạn dây điện dài khoảng 6-7cm bị rút vỏ nhựa ngoài lộ lõi đồng ở bên trong ra, rồi đi đến gần chiếc xe dùng hai tay luồn từ vị trí dưới mặt nạ đầu xe rút dây điện ổ khóa xe ra. Sau đó, H dùng đoạn dây điện nhặt được trước đó đấu vào dây điện của xe mô tô. Sau khi đấu đây điện xong, biết xe đã nổ được máy, H quay trở về phòng trọ để lấy đồ đạc cá nhân cùng quần áo cho vào ba lô rồi quay xuống tầng hầm, điều khiển chiếc xe mô tô ra khỏi khu trọ để về nhà tại huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (cũ) (H không rõ địa chỉ cụ thể), H điều khiển xe rẽ vào một con ngõ, đỗ xe và dùng tay tháo biển kiểm soát xe, gương chiếu hậu rồi vứt lại ven đường. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến địa phận thành phố Lạng Sơn, H tiếp tục dừng xe và dùng tay giật mở cốp xe thì phát hiện thấy bên trong cốp xe có 23.000 đồng. H cầm số tiền trên cho vào túi quần rồi tiếp tục điều khiển xe đến khu vực cây xăng gần đó đổ xăng bằng số tiền lấy được trong cốp xe. Khi H đi đến khu vực xã Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng thì bị tố công tác của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Cao Bằng dừng xe để kiểm tra. Do H không xuất trình được giấy tờ xe nên bị đưa về Cơ quan Công an để làm việc. Tại đây H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe máy của mình.
Ngày 15/4/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao Bằng đã ra Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ đối với H. Ngày 19/4/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao Bằng đã chuyển hồ vụ việc cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 19/4/2025 anh Hoàng Anh Tuấn có đơn trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu đen, BKS 12UA-035.95.
Ngày 21/4/2025, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen mà H đã trộm cắp được.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Bắc Ninh kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không có BKS, số khung RLHJA3939RY516825, số máy JA70E0708011 đã qua sử dụng có trị giá 18.200.000 đồng.
Ngày 22/4/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định trưng cầu phòng KTHS công an tỉnh Bắc Ninh giám định số khung, số máy nguyên thủỷ của chiếc xe mô tô mà H trộm cắp.
Tại bản kết luận giám định số 930/KL-KTHS ngày 22/4/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 12UA-035.95, Số khung: RLHJA3939RY516825; Số máy: JA70E0708011 đã qua sử dụng. Số khung, số máy của xe mô tô nêu trên là số khung, số máy nguyên thuỷ.
Tại Bản cáo trạng số 126/CT-VKSTPBN ngày 26/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 10 tháng đến 14 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2025. Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
Về án phí: Do bị cáo “là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn” nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt bị hại. Xét việc vắng mặt của đương sự không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại.
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản thực nghiệm điều tra, Bản ảnh thực nghiệm điều tra, với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 05 giờ, ngày 15/4/2025, tại tầng hầm khu nhà trọ Thu Hiền ở khu Lãm Trại, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (nay là Khu Lãm Trại, phường Nam Sơm, tỉnh Bắc Ninh) của ông Hoàng Đức Lợi, Bế Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu đen, BKS 12UA-035.95 trị giá 18.200.000 đồng và số tiền 23.000 đồng của anh Hoàng Anh Tuấn. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được của bị hại là 18.223.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức, đủ năng lực hành vi, là người từ nơi khác đến Bắc Ninh sinh sống nhưng không chịu làm ăn lương thiện nhưng lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
. Về vật chứng của vụ án: Vật chứng đã xử lý trong giai đoạn điều tra (trả lại cho chủ sở hữu) Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Do bị cáo “là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn” nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Liên quan vụ án:
Đối với đoạn dây điện H nhặt ở cầu thang khu nhà trọ để dùng đấu điện nổ máy xe mô tô, sau khi sử dụng xong H đã vứt đi. Đối với Biển kiểm soát 12UA-035.95 và gương chiếu hậu của xe mô tô, sau khi H tháo ra khỏi xe máy đã vứt lại ở địa phận xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (cũ), Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa thu hồi được.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bế Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Xử phạt bị cáo Bế Văn H 10 (mƣời) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2025
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án
2. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết
3. Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. * Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an tỉnh Bắc Ninh
- VKS, THADS KV6- Bắc Ninh;
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Nguyễn Thị Lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 6-BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________________________
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Ngày 14 tháng 7 năm 2025;
Tại: Phòng Nghị án Tòa án nhân dân Khu vực 6-Bắc Ninh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Ông Nguyễn Nhƣ Hùng
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 185/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Bế Văn H, sinh năm 2002; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam
HKTT: Xóm Nà Sao, xã Bế Văn Đàn, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng
Bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1. Về tố tụng:
Tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt bị hại. Xét đương sự đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của các đương sự không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
Có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3 (đạt tỉ lệ 100%)
2. Về tội danh:
Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử biÓu quyÕt nhất trí: 3/3 (tỷ lệ 100%).
3. Điều luật áp dụng:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử phạt bị cáo Bế Văn H 10 (mƣời) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2025
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3 (đạt tỉ lệ 100%)
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3 (đạt tỉ lệ 100%)
* Về án phí: Do bị cáo “là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn” nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3 (đạt tỉ lệ 100%)
Nghị án kết thúc cùng ngày .
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Nhƣ Hùng
Nguyễn Văn Hiệp
Nguyễn Thị Lệ TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 6-BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
___________
_________________________________ Số: 03/2025/HSST-QĐTG
Bắc Ninh, ngày 14 tháng 7 năm 2025
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Ông Nguyễn Nhƣ Hùng
Căn cứ các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 14 tháng 7 năm 2025 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1:
Bế Văn H, sinh năm 2002; Giới tính: Nam HKTT: Xóm Nà Sao, xã Bế Văn Đàn, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 10 (mƣời) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Điều 2:
Phân trại tạm giam khu vực Bắc Ninh có trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Phân trại tạm giam/Trại tạm giam;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- VKSND Khu vực 6-Bắc Ninh;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Lệ TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 6-BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
___________
_________________________________ Số: 03/2025/TLHS
Bắc Ninh, ngày 14 tháng 7 năm 2025
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 02//2025/HSST ngày 17/4/2025.
Đối với bị cáo: Bế Văn H, sinh năm 2002; Giới tính: Nam
HKTT: Xóm Nà Sao, xã Bế Văn Đàn, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-BẮC NINH
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Bế Văn H phạm tội về tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 328, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử phạt: Bị cáo Bế Văn H 10 (mƣời) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2025
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an Bắc Ninh, - Phân trại tạm giam/Trại tạm giam; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thi Lệ |