- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Thị N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thào Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 06-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quàng Văn Thủy.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Thị Minh Thúy.
2. Ông Trần Minh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sòi Hùng Thịnh, Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực P:
Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Sồng Ngọc Hạnh và ông Cầm Văn Duy.
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam P, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Thào Thị N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974 tại xã S, huyện P, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã K, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: không; con ông Thào A C (đã chết) và bà Mùa Thị S; bị cáo có chồng là Phàng A T, sinh năm 1973 và 06 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 01/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 tháng; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay. Có mặt.
Người phiên dịch: Ông Thào A C; sinh năm 1971; nơi cư trú: tk4, xã P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 13 phút, ngày 09/7/2025, Thào Thị N đi từ nhà đến bản K, xã K, tỉnh Sơn La làm thuê, đến 18 giờ 30 phút cùng ngày N xong công việc và được trả công 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), sau đó N đi bộ về nhà. Đi đến địa phận bản T, xã K thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, không quen biết. Người đó hỏi N có mua ma túy không, N đồng ý mua và đưa cho người phụ nữ đó số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), người phụ nữ cầm tiền rồi đưa cho N 04 gói nilon màu trắng bên trong đều có chứa chất bột màu trắng. Thào Thị N cầm số ma túy vừa mua được rồi đi bộ về nhà. Khi Thào Thị N đi đến khu vực bản T, xã K, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã K yêu cầu kiểm tra. Nhận thấy việc đang cầm ma túy sẽ bị phát hiện nên N đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy cho tổ công tác.
Về vật chứng của vụ án gồm: 04 gói nilon màu trắng bên trong đều có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Ngày 10/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La phối hợp Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La tiến hành bóc, mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng gói chất bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Thào Thị N. Kết quả: Gói thứ nhất có khối lượng 0,101 gam, ký hiệu N1; Gói thứ hai có khối lượng 0,094 gam, ký hiệu N2; Gói thứ ba có khối lượng 0,109 gam, ký hiệu N3; Gói thứ tư có khối lượng 0,090 gam, ký hiệu N4. Lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định. Tổng khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ là 0,394 gam.
Ngày 14/7/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 772/KL-KTHS, kết luận: Mẫu ký hiệu N1, N2, N3, N4 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), khối lượng của mẫu gửi giám định là N1= 0,101 gam, N2 = 0,094 gam, N3= 0,109, N4 = 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,394 gam, loại Heroine (Heroin). Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Thào Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-KV5 ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, truy tố bị cáo Thào Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thào Thị N mức án từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 04 (bốn) mảnh nilon màu trắng sau khi cân tịnh. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào Thị N.
Ý kiến của bị cáo Thào Thị N trình bày: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định:
Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận: Ngày 09/7/2025 Thào Thị N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,394 gam (không phẩy ba trăm chín mươi tư gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo Thào Thị N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Thào Thị N: Bị cáo Thào Thị N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo Thào Thị N là nghiêm trọng được quy định tại c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển về thể chất, tinh thần và kinh tế của chính bị cáo và là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Thào Thị N: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 01/8/2022, Thào Thị N bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La với thời hạn 18 tháng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy bị cáo Thào Thị N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Về hình phạt bổ sung, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế vẫn còn khó khăn, bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng gồm: 04 mảnh nilon màu trắng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do đó, cần căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với nguồn gốc Heroine bị cáo Thào Thị N khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông ở bản T, xã K, tỉnh Sơn La, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Công an CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ, cơ sở để xử lý.
Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo; tại phiên tòa bị cáo xin miễn nộp tiền án phí thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy, cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Thào Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Thào Thị N 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2025 là ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 04 (bốn) mảnh nilon màu trắng (số vật chứng trên đã được niêm phong).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng của vụ án ngày 13/10/2025 giữa Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Sơn La).
3. Về Án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào Thị N.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/11/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 5 - Sơn La; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 - Sơn La; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Phân trại tạm giam P; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Quàng Văn Thủy |