vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 16/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Nguyễn Hữu T mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Tài - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 16-07-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. bà Bùi Thanh Hà

2. bà Bùi Thị Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc - Thư ký

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Nhủ – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Hữu T, sinh ngày 28/02/1994, tại Cần Thơ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu vực A, phường C, quận O, thành phố C (nay là phường O, thành phố C); Nghề nghiệp: T xế; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá L1 và bà Trần Ngọc Đ; Tiền án: không; Tiền sự: 01 lần (vào ngày 15 tháng 01 năm 2024 bị Công an phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nộp phạt ngày 23 tháng 01 năm 2025)

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Bà Đặng Phương L, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực H, phường T, quận O, Tp Cần Thơ (nay là phường O, Tp Cần Thơ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu T và Tô Quốc Cường là bạn bè quen biết với nhau. Vào khoảng 08 giờ, ngày 25 tháng 02 năm 2025 T đến nhà của Cường, địa chỉ tại khu vực A, phường C, quận O, thành phố Cần Thơ để chơi game cùng với Cường. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì điện thoại di động của T hết pin nên T hỏi mượn điện thoại di động hiệu Iphone của Cường để tiếp tục chơi game thì Cường đồng ý, còn Cường đi ngủ. Sau khi mượn được điện thoại tiếp tục chơi game được một lúc do cần tiền tiêu xài nên Cường nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lúc này T vào zalo của Cường rồi tìm T khoản zalo Đặng Phương L do T biết bà L là mẹ vợ sắp cưới của T nhằm mục đích là T giả danh Cường nhắn tin cho bà L và đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản. Lúc này T nhắn tin cho bà L hỏi mượn số tiền 15.000.000 đồng nhưng bà L không cho mượn, sau đó T tiếp tục nhắn hỏi mượn 10.000.000 đồng. Trong lúc nhắn tin thì bà L có gọi điện thoại zalo nhưng T sợ bị phát hiện nên không nghe máy mà T lấy lý do là đang nói chuyện với khách. T nhắn với bà L là chuyển khoản 10.000.000 đồng vào số T khoản số 0939297666, ngân hàng MB Bank tên Nguyễn Hữu T vì tránh để bà L phát hiện chuyển qua T khoản của người khác mà không phải là T khoản của Cường nên T nhắn là “chuyển qua T khoản con nhờ bạn con đi rút cũng được”. Tin tưởng là Cường mượn tiền thật nên bà L đã chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng đến T khoản ngân hàng số 0939297666 mở tại ngân hàng MB Bank tên Nguyễn Hữu T. Sau khi nhận được tiền vào T khoản thành công, T đã xóa hết các tin nhắn và trả điện thoại cho Cường rồi đi về. Đối với số tiền chiếm đoạt được T sử dụng số tiền 10.000.000 đồng trên để chuộc xe mô tô nhãn hiệu Wave S biển số 65L1-058.75 với số tiền 4.050.000 đồng. Đối với số tiền còn lại là 5.950.000 đồng T sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

Quá trình điều tra Nguyễn Hữu T đã tác động gia đình bồi thường cho bà Đặng Phương L số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra bà L không có yêu cầu gì thêm và xin bãi nại cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSOM ngày 23 tháng 06 năm 2025, Viện Kiểm sát Nhân dân quận Ô Môn (nay là Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ) đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thống nhất với quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Kiểm sát viên tại phiên tòa trình bày quan điểm luận tội:

+ Giữ nguyên quan điểm Cáo trạng truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Hữu T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể, ngày 25/02/2025 do không có tiền tiêu xài, sau khi mượn được điện thoại của Cường để chơi game thì T nảy sinh ý định dùng điện thoại của Cường để lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Đặng Phương L. Bị cáo T đã dùng điện thoại của Cường và giả danh là Cường để nhắn tin cho bà L hỏi vay số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo nói dối qua tin nhắn điện thoại với bà L rằng bị cáo chính là Cường, vì vậy bà L đã tin tưởng chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng. Khi bà L chuyển vào số T khoản của bị cáo T số tiền 10.000.000 đồng, sợ bị phát hiện nên bị cáo tiếp tục đưa ra thông tin lừa đối bà L rằng số T khoản trên là của bạn Cường nhờ nhận dùm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì ham chơi, không lo chí thú làm ăn mà dẫn đến không tiền tiêu xài và nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Nên hành vi của bị cáo phải chịu chế tài hình sự theo quy định để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt:

Bị cáo có 01 tiền sự, cho thấy bị cáo có nhân thân không tốt. Tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả, bị hại xin bãi nại cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

- khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Hữu T mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ