- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M Cố ý GTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/10/2024.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 10/01/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An;
Ông Trần Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh năm 1987, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố K, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh; vợ , con: không có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 73/2005/HSST ngày 08/12/2005 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh đã xử phạt Nguyễn Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: anh Trương Tuấn K, sinh năm 1990; cư trú tại: khu phố Th, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1955; cư trú tại: khu phố Th, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 05/6/2024, Nguyễn Văn M đến nhà mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Nh chơi thì nhớ đến tranh chấp đất đai với nhà bà Nguyễn Thị Th (em ruột bà Nh) nên bực tức và qua nhà bà Th (cạnh nhà bà Nh) để nói chuyện. Khi qua nhà bà Th, M nhìn thấy anh Trương Tuấn K (con bà Th) đang đứng trước sân nên đi vào nói chuyện thì xảy ra mâu thuẫn. M về nhà bà Nh lấy 01 cây dao bằng kim loại dài 40,7cm quay lại đứng đối diện, cách anh K khoảng 01m, cầm dao trên tay trái chém 01 cái theo hướng từ trên xuống, từ trái sang phải nên trúng vào tay phải anh K; M tiếp tục cầm dao chém cái thứ hai thì anh K khom người xuống và đưa tay phải lên đỡ nên bị trúng vào tay phải và vùng đầu bên phải gây thương tích, sau đó M đi về nhà. Anh K được đưa đi cấp cứu điều trị tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 10/6/2024 thì xuất viện và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn M.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 166/KLTTCT-TTPYTN ngày 26/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trương Tuấn K tại thời điểm giám định là 07%.
Cáo trạng số 01/CT-VKSTrB ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Bị hại – anh Trương Tuấn K trình bày: sau khi xảy ra vụ việc thì anh đã được mẹ ruột của bị cáo là bà Nh bồi thường số tiền chi phí điều trị là 7.000.000 (bảy triệu) đồng. Nay anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Nh trình bày: bà là mẹ ruột của bị cáo M. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo có nhờ bà hỗ trợ bồi thường cho anh K số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng. Nay bà không yêu cầu bị cáo M trả lại cho bà số tiền này, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận mẹ của bị cáo là bà Nguyễn Thị Nh đã bồi thường cho anh Trương Tuấn K số tiền 7.000.000 đồng, anh K không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: giữa Nguyễn Văn M và anh Trương Tuấn K không có mâu thuẫn với nhau nhưng vào khoảng 16 giờ ngày 05/6/2024, tại khu phố Th, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn M đã dùng dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém trúng vào tay phải và vùng đầu bên phải của anh Trương Tuấn K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc dùng hung khí gây thương tích cho người khác là nguy hiểm, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người khác nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong gia đình mà bị cáo đã trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm là dao bằng kim loại để chém anh K, điều này thể hiện rõ sự hung hãn, manh động, bất chấp lý do, coi thường sức khỏe của người khác và thể hiện rõ tính chất côn đồ của bị cáo. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích nhưng bị cáo không tự tu dưỡng, rèn luyện, cố gắng phấn đấu trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động mẹ ruột bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về các biện pháp tư pháp:
5.1 Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị cáo đã tác động mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Nh bồi thường cho anh Trương Tuấn K số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng, anh K không yêu cầu bồi thường gì thêm; bà Nh không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.
5.2 Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng gồm: 01 cây dao bằng kim loại dài 40,7 cm, có cán bằng gỗ dài 12 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 28,7 cm, nơi rộng nhất 6,8 cm, trọng lượng 400 gam (đã qua sử dụng).
Đối với bà Nguyễn Thị Nh không biết Nguyễn Văn M lấy dao để gây thương tích cho anh Trương Tuấn K nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa là có căn cứ.
Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/10/2024.
2. Về các biện pháp tư pháp:
2.1. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Trương Tuấn K số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng, anh K không yêu cầu bồi thường gì thêm.
2.2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 40,7 cm, có cán bằng gỗ dài 12 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 28,7 cm, nơi rộng nhất 6,8 cm, trọng lượng 400 gam (đã qua sử dụng).
3. Án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao TP.HCM; - Phòng KTNV. TATTN; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Cơ quan Thi hành án Hình sự; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Nhà tạm giữ CA thị xã Trảng Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Thư |