vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, điểm d khoản 1 Điều 125, 135, 136, 327, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài l…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày 10-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quốc Hương;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh ngày 12/02/1996 tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; tạm trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Thạch Thị Huỳnh N, sinh năm 2002; bị cáo có 05 anh chị em (bao gồm bị cáo), lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/8/2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ mà không cần phải thi sát hạch nên ngày 24/11/2021, Trần Văn T sử dụng tài khoản facebook của mình liên hệ với tài khoản facebook có tên “Nhật Minh GPLX" (không rõ nhân thân lai lịch) để thuê người này làm giả cho T một giấy phép lái xe hạng A1. Sau đó, T cung cấp thông tin cá nhân của T cho người có tài khoản facebook trên để thuê người này làm giả một giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 700213013068 mang tên của T với số tiền là: 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng). Ngày 24/12/2021, T nhận được giấy phép lái xe giả từ người shipper giao hàng (không rõ nhân thân lai lịch). T trả tiền cho shipper rồi sử dụng giấy phép lái xe mô tô hạng A1 trên để tham gia giao thông đường bộ. Đến khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 28/6/2023, khi T điều khiển xe mô tô biển số 64E1-614.81 chở theo vợ tên Thạch Thị Huỳnh N đi trên đường ĐT741, thuộc ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông trật tự cơ động Công an huyện P yêu cầu dừng xe kiểm tra do T điều khiển xe vi phạm lỗi điều khiển xe mô tô chở người ngồi phía sau không đội mũ bảo hiểm. Lúc này, T xuất trình giấy phép lái xe giả mà T đặt mua trên mạng cho lực lượng chức năng làm việc. Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm đối với T và tạm giữ giấy phép lái xe của T để làm thủ tục xử phạt hành chính. Đội Cảnh sát giao thông phát hiện giấy phép lái xe của T có dấu hiệu nghi ngờ giấy tờ giả nên chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền. Qua làm việc, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội sử dụng giấy phép lái xe giả.

Kết luận giám định số 2706/KL-KTHS (TL) ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) “Giấy phép lái xe" (PET) số 700213013068, hạng A1, họ tên “Trần Văn T", sinh năm 1996, nơi cư trú: X. Đ, H.Bù Đăng, T. Bình P, đề ngày 10/5/2021 (ký hiệu A) là giả.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 700213013068, hạng A1, họ tên "Trần Văn T", sinh năm 1996, nơi cư trú: X. Đ, H.Bù Đăng, T.Bình Phước, đề ngày 10/5/2021.

Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKSPG ngày 31/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Trần Văn T số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Thu giữ lưu hồ sơ vụ án một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 700213013068, hạng A1, họ tên "Trần Văn T", sinh năm 1996, nơi cư trú: X. Đ, H.Bù Đăng, T.Bình Phước, đề ngày 10/5/2021.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, có đủ cơ sở xác định: Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ, ngày 24/11/2021, Trần Văn T sử dụng tài khoản facebook cá nhân liên hệ với tài khoản facebook có tên “Nhật Minh GPLX" (không rõ nhân thân lai lịch) để thuê người này làm giả cho bị cáo T một giấy phép lái xe hạng Al số 700213013068, họ tên "Trần Văn T", sinh năm 1996, nơi cư trú: X. Đ, H.Bù Đăng, T.Bình Phước, đề ngày 10/5/2021. Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 28/6/2023, tại đoạn đường ĐT741, thuộc ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả để xuất trình cho Đội Cảnh sát giao thông trật tự cơ động thuộc Công an huyện P khi bị Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính với lỗi vi phạm điều khiển xe mô tô chở người ngồi phía sau không đội mũ bảo hiểm.

Bị cáo đồng ý với Kết luận giám định số 2706/KL-KTHS (TL) ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B và không có ý kiến gì thêm. Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập, nhận thấy có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 124/CT-VKSPG ngày 31/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có con còn nhỏ (sinh năm 2024), lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù do bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc xử phạt hình phạt tiền cũng đủ đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị thu giữ lưu hồ sơ vụ án một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 700213013068, hạng A1, họ tên "Trần Văn T", sinh năm 1996, nơi cư trú: X. Đ, H.Bù Đăng, T.Bình Phước, đề ngày 10/5/2021 của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, điểm d khoản 1 Điều 125, 135, 136, 327, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, điểm d khoản 1 Điều 125, 135, 136, 327, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Văn T kể từ ngày 10/01/2025.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ