- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ng Hồng P tội Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM GIANG TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày: 09/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông: ALăng Ping.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Ka Phu Bột; Ông: ALăng Vượt.
- Thư ký phiên tòa: Ông: CLâu Thìn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Giang tham gia phiên tòa: Bà: Vũ Thị Xuân – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng P; Sinh ngày 15 tháng 11 năm 1985. Nơi sinh: Thị xã Đ, tỉnh Q; Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: Khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Q; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đ (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 14/10/2017, bị Công an phường Điện An xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (Quyết định số 76/QĐ-XPVPHC ngày 14/10/2017 của Công an phường Điện An), đã chấp hành nộp phạt vào ngày 01/12/2017; Ngày 20/3/2019, bị Công an phường Điện An xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (Quyết định số 15/QĐ-XPVPHC ngày 20/3/2019 của Công an phường Điện An), đã chấp hành nộp phạt vào ngày 17/6/2019; Ngày 20/6/2023, bị Công an phường Điện An xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” (Quyết định số 15/QĐ-XPHC ngày 20/6/2023 của Công an phường Điện An), đã chấp hành nộp phạt vào ngày 07/6/2023.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2024 đến ngày 29/8/2024 chuyển sang tạm giam. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH Thương mại X.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đức P, sinh năm 1992. Chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Q. (Có mặt).
- Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Xuân Tuấn A, sinh năm 1994; Trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện N, tỉnh Q. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 21/8/2024, Nguyễn Hồng P điều khiển xe ôtô đầu kéo BKS: 50H-370.35 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 50RM-015.65 (của Công ty TNHH Thương mại X, do ông Nguyễn Đức P làm Giám đốc) từ Việt Nam qua Lào thông qua Cửa khẩu quốc tế Nam Giang. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, tại quán nước Mui gần mỏ quặng thuộc huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông (Lào) P gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 05 hộp pháo hoa với số tiền 2.000.000 đồng. P đợi khoảng 05 phút sau, người phụ nữ này điều khiển xe môtô đến và mang theo 05 hộp pháo như đã thỏa thuận bán cho P. Sau đó, P mang 05 hộp pháo hoa vừa mua được bỏ vào trong táp lô phía trước ghế phụ của xe ôtô đầu kéo nêu trên và điều khiển về Việt Nam. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến Km66 đường Quốc lộ 14D thuộc thôn Đắc Ôốc, xã La Dêê, huyện Nam Giang thì bị tổ công tác gồm: Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Nam Giang, Phòng phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Nam Giang, Công an huyện Nam Giang, Công an xã La Dêê kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra thu giữ, tạm giữ các tài liệu, đồ vật:
- 01 (một) xe ôtô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC màu xanh BKS: 50H-37035, số máy: MC114450231117203367, số khung: LZZ1CLVC9PD168366, trọng tải: 13.970kg đã qua sử dụng.
- 01 (một) Rơ móc nhãn hiệu CIMC, loại xe SMRM tải có khung mui BKS: 50RM-01565, màu xanh, số khung: LJRH13382PN032215, trọng tải 32.050kg đã qua sử dụng.
- 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Hồng P, có số E01502875; cấp ngày 12/3/2024 do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp; 01 Giấy phép liên vận giữa Việt Nam và Lào, số giấy phép 176831/2024;
- 01 (một) điện thoại di động màu xám, nhãn hiệu Iphone 12 Pro, đã qua sử dụng, bên trong có lắp thẻ sim, số thuê bao 0905424003, không xác định được giá trị.
- 05 (năm) hộp giấy (nghi là pháo nổ dạng pháo hoa) có cùng hình dạng, kích thước (16,5x16,5x10)cm, mặt trên có các hình pháo hoa (màu vàng, đỏ, xanh, hồng) một mặt cạnh có dòng chữ “49 SHOTS CAKE” màu hồng, một mặt cạnh có các dòng chữ nước ngoài màu đen, đỏ được ghi trên nền vàng, hai mặt cạnh còn lại có hai dòng chữ nước ngoài màu đỏ (dòng thứ hai có chữ “WEALTHY GOD”); tổng khối lượng 05 (năm) hộp giấy (nghi là pháo nổ dạng pháo hoa) là 7,8kg (Bảy phẩy tám kilôgam).
- 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 1927/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng thuộc Viện khoa học hình sự kết luận: 05 (năm) khối hộp (mỗi khối hộp có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy màu, có in hoa văn, chữ nước ngoài và các dòng chữ “49 SHOTS CAKE”, “WEALTHY GOD”; bên trong mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) gửi giám định đều là pháo hoa nổ; tổng khối lượng là 7,6kg (bảy phẩy sáu kilôgam).
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSNG ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Giang (viết tắt là VKSND huyện Nam Giang) truy tố bị cáo Nguyễn Hồng P về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nam Giang thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố; Qua xem xét tính chất của vụ án, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Đề nghị xử lý vật chứng.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên; không bào chữa, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người chứng kiến vắng mặt không có lý do, nhưng họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; Xét thấy việc vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định.
Xét về tội danh và định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. HĐXX xác định được:
Bị cáo Nguyễn Hồng P là lái xe thuê của Công ty TNHH Thương mại X (do ông Nguyễn Đức P làm Giám đốc) chuyên chở quặng Boxit từ nước Lào về nước Việt Nam. Khoảng 13 giờ ngày 21/8/2024, tại huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông (nước Lào) bị cáo P đã mua 05 hộp pháo hoa với số tiền 2.000.000 đồng từ một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch. Sau đó, bị cáo P mang 05 hộp pháo hoa vừa mua được bỏ vào trong táp lô phía trước ghế phụ của xe ôtô đầu kéo BKS: 50H-370.35 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 50RM-015.65 (của Công ty TNHH Thương mại X) và điều khiển xe về nước Việt Nam nhập cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế Nam Giang. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến thôn Đắc Ôốc, xã La Dêê, huyện Nam Giang thì bị tổ công tác liên ngành gồm Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Nam Giang, Phòng phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế Nam Giang, Công an huyện Nam Giang, Công an xã La Dêê kiểm tra phát hiện pháo hoa và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 1927/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng thuộc Viện Khoa học hình sự kết luận: 05 (năm) khối hộp (mỗi khối hộp có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy màu, có in hoa văn, chữ nước ngoài và các dòng chữ “49 SHOTS CAKE”, “WEALTHY GOD”; bên trong mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) gửi giám định đều là pháo hoa nổ; tổng khối lượng là 7,6kg (bảy phẩy sáu kilôgam).
HĐXX xét thấy, các loại pháo (gồm pháo hoa nổ, pháo hoa) là hàng hóa nằm trong Phụ lục I Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh (Ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện); đồng thời, hành vi vận chuyển pháo hoa nổ là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo. Bị cáo là người đã trưởng thành, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ khả năng nhận thức và biết rõ Nhà nước cấm việc mua bán, vận chuyển, kinh doanh các loại pháo, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, cố ý trực tiếp mua 7,6kg (bảy phẩy sáu kilôgam) pháo hoa nổ, mục đích để sử dụng cá nhân và vận chuyển qua biên giới. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm k khoản 2 Điều 191 BLHS. Bản Cáo trạng truy tố và ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là có tính chất nghiêm trọng, vừa xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, vừa còn tiềm ẩn những mối nguy hiểm về an ninh trật tự đối với cộng đồng và xã hội do việc sử dụng pháo gây ra, nhất là trong thời gian gần Tết Nguyên đán; nên cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị luận tội của Kiểm sát viên là phù hợp.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thân nhân gia đình bị cáo có công với Nhà nước (có bà cố ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng, ông ngoại là Liệt sĩ, bà ngoại được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất), gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, trình độ học vấn thấp. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Nhân thân bị cáo: Có 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành nộp phạt xong.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2, 3 Điều 35; khoản 4 Điều 191 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đến. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy trước khi phạm tội bị cáo có công việc và thu nhập không ổn định, bản thân không có tài sản gì riêng, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy:
Cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 68/QĐ-ĐTTH ngày 30/8/2024 trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Thương mại X các tài sản: 01 (một) xe ôtô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC màu xanh BKS: 50H-37035, số máy: MC114450231117203367, số khung: LZZ1CLVC9PD168366, trọng tải: 13.970kg đã qua sử dụng; 01 (một) Rơ móc nhãn hiệu CIMC, loại xe SMRM tải có khung mui BKS: 50RM-01565, màu xanh, số khung: LJRH13382PN032215, trọng tải 32.050kg đã qua sử dụng là đúng quy định pháp luật.
Đối với các vật chứng, tài sản gồm: 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Hồng P, có số E01502875; cấp ngày 12/3/2024 do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp; 01 Giấy phép liên vận giữa Việt Nam và Lào, số giấy phép 176831/2024; 01 (một) điện thoại di động màu xám, nhãn hiệu Iphone 12 Pro, đã qua sử dụng, bên trong có lắp thẻ sim, số thuê bao 0905424003, không xác định được giá trị. Không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả cho bị cáo là đúng quy định pháp luật.
Đối với vật chứng: Phần còn lại của 05 (năm) khối hộp (mỗi khối còn lại 45 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) có tổng khối lượng là 6,9kg (sáu phẩy chín kilôgam) được đựng trong 01 (một) thùng giấy cattong, mặt ngoài có chữ “AQUAFINA”, tại miệng thùng được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy trắng có hình dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và các chữ ký của Lê Hồng P, Trịnh Lương T, là vật cấm tàng trữ và lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình ngày 14/10/2024 (về việc hỏi cung bị can) tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án tại Tòa án.
Vấn đề khác: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Thương mại X không biết về hành vi phạm tội của bị cáo, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 38; điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tuyên tịch thu và tiêu hủy: Phần còn lại của 05 (năm) khối hộp (mỗi khối còn lại 45 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) có tổng khối lượng là 6,9kg (sáu phẩy chín kilôgam). Được đựng trong 01 (một) thùng giấy cattong, mặt ngoài có chữ “AQUAFINA”, tại miệng thùng được niêm phong bằng thùng giấy trắng, trên giấy trắng có hình dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và các chữ ký của Lê Hồng P, Trịnh Lương T.
- Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Hồng P các vật chứng gồm: 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Hồng P, có số E01502875, cấp ngày 12/3/2024 do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp; 01 (một) Giấy phép liên vận giữa Việt Nam và Lào, số giấy phép 176831/2024; 01 (một) điện thoại di động màu xám, nhãn hiệu Iphone 12 Pro, đã qua sử dụng, bên trong có lắp thẻ sim, số thuê bao 0905424003, không xác định được giá trị. Được đựng trong 01 (một) bì trắng ký hiệu số 01.
(Các vật chứng trên đã được chuyển giao đến cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Giang theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/10/2024).
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án tại Tòa án: 01 (một) đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình ngày 14/10/2024 (về việc hỏi cung bị can).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng P phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng y) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Người tham gia tố tụng; - Công an tỉnh Quảng Nam (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam (Bộ phận lý lịch tư pháp); - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ALăng Ping |