vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 134; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Trung Ng 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 10/10/2024. 3- Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 điều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung Ng pham tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hìn…"
  • Tòa quyết gì? 1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày 20/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Trương Xuân Vũ;

2- Ông Hoàng Văn Khiếu.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều, Thư ký Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thu Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 20/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 20/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 08/01/2025 đối với bị cáo:

Lê Trung Ng, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/02/1995 tại huyện L- tỉnh Y. Nơi cư trú: Thôn 10 xã ĐQ- huyện L- tỉnh Y. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị Th. Vợ là chị Lê Thị O; bị cáo có hai con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023 hiện trú tại thôn 10 xã ĐQ- tỉnh Y.

Tiền sự: Không. Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 30/7/2019 Lê Trung Ng bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 18/9/2021 Nghĩa chấp hành xong hình phạt. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 17/8/2024 Nghĩa chưa chấp hành xong nghĩa vụ về án phí HSST, án phí DSST và trách nhiệm dân sự nên chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

- Ngày 28/12/2017 Lê Trung Ng bị Công an huyện L- tỉnh Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

- Ngày 28/01/2019 Lê Trung Ng bị Công an tỉnh Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép.

- Ngày 28/8/2023 Chủ tịch UBND xã ĐQ- huyện L có quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Lê Trung Ng, thời hạn 01 năm.

Bị cáo bị bắt ngày 10/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L- tỉnh Y, có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn C 26 tuổi

Nơi đăng ký HKTT: Xã T- thành phố H D- tỉnh H.

Tạm trú: Thôn 10 xã ĐQ- huyện L- tỉnh Y, có mặt.

Người có quyền lợi liên quan: Công ty cổ phần khai thác khoáng sản V S. Địa chỉ trụ sở: Thôn 10 xã ĐQ- huyện L- tỉnh Y, do ông Lê Văn Đ- Phó Chủ tịch HĐQT đại diện theo uỷ quyền, vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác

Người làm chứng:

1. Anh Hoàng Văn S;

2. Chị Lê Thị O;

3. Anh Triệu Ngọc Th;

4. Anh Trần Văn H;

5. Anh Vũ Xuân Tr.

Cùng trú tại thôn 10 xã ĐQ- huyện L- tỉnh Y.

Anh S, anh Th, anh Tr và chị O có mặt; anh H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 17/8/2024 anh Nguyễn Văn C, anh Trần Văn H, anh Vũ Xuân Tr, anh Hoàng Văn S và anh Triệu Ngọc Th là công nhân Công ty cổ phần khai thác khoáng sản V S (trụ sở chính tại thôn 10 xã ĐQ- huyện L- tỉnh Y) đưa máy xúc vào khu vực thấu kính 4, thuộc thôn 10 xã ĐQ- huyện L để san gạt mặt bằng trên phần đất của Công ty. Khi đang thực hiện việc san gạt thì Lê Trung Ng đến hỏi “Mốc cột hôm qua đâu” nhưng không ai trả lời, sau đó Ng đi về nhà cầm mỗi tay một con dao ra khu vực các công nhân đang làm việc và cầm dao chỉ vào anh Nguyễn Văn C hỏi: “Chúng mày làm sao”, anh C trả lời: “Chả làm sao, thích chém thì vào mà chém”. Ngh lao vào dùng tay trái cầm con dao quắm chém vào khu vực bụng của anh C nhưng không gây thương tích. Anh C lao vào dùng tay phải nắm lấy con dao Ng đang cầm trên tay trái giằng co gây vết thương rách da bàn tay phải của anh C. Trong lúc xô sát anh C bị ngã lưng va đập vào đá trên nền đất, hai người tiếp tục giằng co, vật lộn, con dao nhọn Ng cầm bên tay phải văng vào trán của anh C. Anh Hoàng Văn S lao vào ngăn cản thì Ngh bỏ chạy về nhà, còn anh C được mọi người đưa đến Trung tâm Y tế huyện L để băng bó vết thương.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/ KLTTCT-TTPY ngày 23/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y đã kết luận đối với anh Nguyễn Văn C như sau:

1. Các kết quả chính:

+ Sẹo vùng trán trái, kích thước nhỏ: 03 %.

+ Sẹo đốt 3 ngón III bàn tay phải, kích thước nhỏ: 01 %.

+ Vết thay đổi sắc tố da vùng lưng trái, kích thước nhỏ: 0,8 %.

2. Kết luận:

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn C tại thời điểm giám định là: 05% (năm phần trăm).

- Cơ chế hình thành thương tích:

+ Sẹo vùng trán trái là do vật sắc tác động một lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới gây nên.

+ Sẹo đốt 3 ngón III bàn tay phải là do vật sắc tác động một lực vừa đủ theo hướng từ dưới lên trên, từ phải sang trái gây nên.

+ Vết thay đổi sắc tố da vùng lưng trái do vật cứng có cạnh tác động một lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới gây nên (Bút lục số 53-54).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 con dao quắm dài 63cm, chuôi bằng sắt dài 33cm, chiều rộng nhất của lưỡi dao là 05cm; 01 con dao nhọn dài 49cm, chuôi bằng gỗ dài 18cm, chiều rộng của lưỡi dao là 04cm.

Kết quả xác minh tại địa phương xác định: Thửa đất tại thấu kính 4, thuộc thôn 10 xã ĐQ- huyện L, nơi xảy ra vụ việc xô sát giữa Lê Trung Ng và anh Nguyễn Văn C thuộc diện tích đất tranh chấp giữa Công ty cổ phần khai thác khoáng sản V S và gia đình bà Nguyễn Thị Th (mẹ đẻ của Lê Trung Ng) từ tháng 7/2024. Quá trình giải quyết tranh chấp, UBND xã ĐQ- huyện L đã tiến hành hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được. UBND xã ĐQ- huyện L xác nhận đất tại khu vực thấu kính 4 nằm trong diện tích công ty được cấp phép khai thác (công ty có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng); bà Nguyễn Thị Th không cung cấp được các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng thửa đất của gia đình.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS-LY ngày 20/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y đã truy tố Lê Trung Ng về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, trong phần tranh luận sau khi phân tich tính chất, mức độ hành

́ vi pha ̣m tô ̣i, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bi ̣ cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố Lê Trung Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 134; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Trung Ng từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Áp dụng các quy định của pháp luật xử lý vật chứng của vụ án và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên toà Lê Trung Ng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp, bị cáo xin lỗi bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp nhất.

Bị hại là anh Nguyễn Văn C trình bày: Ngày 17/8/2024 anh và một số công nhân công ty cổ phần khai thác khoáng sản V S đang san gạt mặt bằng trên phần đất của công ty tại khu vực thấu kính 4, thuộc thôn 10 xã ĐQ thì xảy ra mâu thuẫn, Lê Trung Ng dùng dao chém vào khu vực bụng của anh. Trong lúc vật lộn, giằng co với Ngh, anh bị thương tích ở bàn tay phải, trán và vùng lưng. Sau khi sự việc xảy ra anh được mọi người đưa đến Trung tâm Y tế huyện L điều trị từ ngày 17 đến ngày 23/8/2024. Mẹ của Lê Trung Ng là bà Nguyễn Thị Th có đến gặp gỡ, thăm hỏi sau đó có chuyển khoản cho anh số tiền 5.000.000 đồng hỗ trợ tiền thuốc nhưng anh từ chối nhận. Anh không yêu cầu Lê Trung Ng phải bồi thường, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

Những người làm chứng tại phiên toà là anh Hoàng Văn S, anh Triệu Ngọc Th, anh Vũ Xuân Tr trình bày: Các anh là công nhân của công ty cổ phần khai thác khoáng sản V S. Vào khoảng hơn 09 giờ ngày 17/8/2024 trong lúc thực hiện nhiệm vụ được công ty giao san gạt mặt bằng tại khu vực thấu kính 4, thuộc thôn 10 xã ĐQ thì xảy ra xô sát. Lê Trung Ng một tay cầm dao quắm, một tay cầm dao nhọn chạy đến, hai bên lời qua tiếng lại, Ngh cầm con dao quắm chém vào khu vực bụng của anh C. Hai bên vật lộn, giằng co dẫn đến anh C bị thương tích tại bàn tay phải, trán và vùng lưng. Khi anh S chạy đến ngăn cản thì Ngh bỏ chạy, còn anh C được mọi người đưa đi băng bó vết thương. Nguyên nhân xảy ra xô sát là do Lê Trung Ng cho rằng khu vực công ty san gạt là đất của gia đình Ngh sử dụng từ lâu.

Chị Lê Thị O trình bày: Chị là vợ của Lê Trung Ng. Sáng ngày 17/8/2024 khi công ty V S cho máy xúc đến san gạt tại khu vực đất đang có tranh chấp giữa công ty và gia đình thì xảy ra mâu thuẫn. Trong lúc chị đang sử dụng điện thoại để ghi lại hình ảnh máy san gạt thì nghe có tiếng kêu, quay lại chị đã thấy Ngh và anh C đang vật lộn, giằng co nhau. Khi có người của công ty cầm gậy gỗ vào can ngăn thì Ngh cầm hai con dao bỏ chạy về nhà, anh C bị thương tích, chảy máu ở khu vực trán. Nguyên nhân xảy ra việc xô sát là do việc tranh chấp đất giữa công ty và gia đình chưa được giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh và hình phạt: Qúa trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên toà Lê Trung Ng khai nhận do mâu thuẫn tranh chấp đất đai từ trước, nên ngày 17/8/2024 khi anh Nguyễn Văn C cùng một số công nhân đưa máy xúc vào khu vực thấu kính 4, thuộc thôn 10 xã ĐQ để san gạt mặt bằng thì giữa Ngh và anh C xảy ra xô sát. Ngh đã dùng hai con dao (01 dao quắm và 01 dao nhọn) gây thương tích tại bàn tay phải và vùng trán trái, lưng của anh C. Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/ KLTTCT-TTPY ngày 23/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn C tại thời điểm giám định là: 05% (năm phần trăm).

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai của những người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi của Lê Trung Ng dùng dao quắm và dao nhọn (theo quy định của pháp luật là loại hung khí nguy hiểm) chém anh Nguyễn Văn C, trong quá trình giằng co, vật lộn gây thương tích cho anh Nguyễn Văn C đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Lê Trung Ng là người có năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Từ phân tích trên có đủ cơ sở kết luận Lê Trung Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố. Cụ thể điều luật quy định như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;…”

Xét về nhân thân: Lê Trung Ng có nhân thân không tốt, là người nghiện chất ma tuý, đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Năm 2019 Lê Trung Ng bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên Nghĩa không lấy đó làm bài học cải tạo bản thân thành công dân tốt cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Trung Ng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại địa phương vợ chồng Ngh vẫn đang ở cùng bố mẹ, bản thân Ngh không có nghề nghiệp ổn định, gia đình không có tài sản gì có giá trị tuy nhiên quá trình điều tra mẹ của Ngh là bà Nguyễn Thị Th đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 5.000.000 đồng nhưng anh Nguyễn Văn C từ chối không nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 30/7/2019 Lê Trung Ng bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì chưa được xóa án tích nên với lần phạm tội này Lê Trung Ng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tinh

̀ tiết giảm nhe ̣, tăng nặng trách nhiệm hình sự xét thấy nên có một mức án phù hợp, cần thiết phải cách ly Lê Trung Ng ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Qúa trình điều tra và tại phiên toà anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Lê Trung Ng phải bồi thường do đó vấn đề trách nhiệm dân sự của bị cáo không đặt ra.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 con dao quắm dài 63cm, chuôi bằng sắt dài 33 cm và 01 con dao nhọn dài 49cm, chuôi bằng gỗ dài 18 cm là công cụ phạm tội, xét thấy không có giá trị cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 134; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Trung Ng 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 10/10/2024.

3- Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao quắm dài 63cm, chuôi bằng sắt dài 33 cm và 01 con dao nhọn dài 49cm, chuôi bằng gỗ dài 18 cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L-tỉnh Y).

4- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thườ ng vu ̣ Quốc Hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi và lê ̣ phi Tòa án; buộc Lê Trung Ng phải chịu 200.000 đồng án phí

́

́ hình sự sơ thẩm.

5- Quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ