- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H và Ma Khánh S tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Ma Khánh S. (Giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 29/10/2020).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày: 02-01-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc;
2. Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ky Toa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ ly số: 525/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/11/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1994; thường trú: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có đơn yêu cầu vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Ma Khánh S, sinh năm 1998; thường trú: Xóm H, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: Số G, Đường số C, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Ma Khánh S tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ky kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, cấp ngày 29/10/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến những năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng nên hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay bà Trần Thị H xác định tình cảm vợ chồng không con, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Ma Khánh S.
Về con chung: Bà Trần Thị H xác định, vợ chồng có một người con chung tên Ma Thị Phương A, sinh ngày 18/7/2021. Cháu đã mất ngày 19/01/2024 nên không yêu cầu Toa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Trần Thị H không yêu cầu Toa án giải quyết.
Bị đơn ông Ma Khánh S đã được Toa án thông báo tham gia tố tụng, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông không đến Toa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ ly cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ky phiên toa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn được Toa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Ma Khánh S đã được Toa án triệu tập nhưng vắng mặt không có ly do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Ma Khánh S là vợ chồng, có đăng ky kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 29/10/2020, việc kết hôn là tự nguyện nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà Trần Thị H xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã và hiện đã sống ly thân. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài mà không thể hàn gắn được nên bà Trần Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Ma Khánh S.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quy trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Bà Trần Thị H xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, phát sinh trong thời gian dài không hàn gắn được. Ông Ma Khánh S đã được Toa án triệu tập làm việc, tham gia hoa giải và tham gia phiên toa nhưng đều vắng mặt, không cung cấp lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Toa án. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà Trần Thị H và ông Ma Khánh S đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Trần Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Ma Khánh S là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Bà Trần Thị H xác định, vợ chồng có một người con chung tên Ma Thị Phương A, sinh ngày 18/7/2021. Cháu đã mất ngày 19/01/2024 nên không yêu cầu Toa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Toa án không xem xét, giải quyết.
Từ những nhận định trên, Toa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị H chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Toa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Toa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Ma Khánh S. (Giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 29/10/2020).
2. Về con chung: Cháu Ma Thị Phương A, sinh ngày 18/7/2021 đã mất ngày 19/01/2024 nên bà Trần Thị H không yêu cầu Toa án giải quyết.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Toa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001802 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - CCTHADS thành phố Dĩ An (01); - Đương sự (02); - Lưu: VP, HS (03). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |