- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phin - Hòa"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị P được ly hôn ông Phạm Huy H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-01-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Nhàn
2. Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị P; địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện An Dương (nay là tổ dân phố V, phường A, quận An Dương), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Huy H; nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã A, huyện An Dương (nay là tổ dân phố V, phường A, quận An Dương), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Phạm Thị P trình bày:
Bà kết hôn với ông Phạm Huy H trên cơ sở hai bên đều tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện An Dương (nay là phường A, quận An Dương), Hải Phòng vào ngày 11/03/2003. Sau ngày cưới bà và ông Hòa về chung sống tại gia đình ông Hòa ở A, An Dương, Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận, vui vẻ được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn xảy ra tranh cãi bất hòa với nhau, bà đã tìm nhiều cách khắc phục nhưng không được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng và căng thẳng hơn. Do mâu thuẫn năm 2015 ông Hòa đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú. Sau khi ông Hòa bỏ đi bà và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả. Do ông Hòa không có tin tức gì đã chín năm nên bà đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện An Dương (nay là Quận An Dương) giải quyết tuyên bố ông Phạm Huy H là người mất tích. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2024/QĐST- VDS ngày 22/8/2024 Tòa án nhân dân huyện An Dương (nay là Quận An Dương), thành phố Hải Phòng đã tuyên bố anh Phạm Huy H nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã A, huyện An Dương (nay là tổ dân phố V, phường A, quận An Dương), Hải Phòng là người mất tích. Do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, hai bên không thể khắc phục đoàn tụ nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Huy H.
- Về con chung: Bà và ông Phạm Huy H có 02 con chung là Phạm Thị Thúy Hiền, sinh ngày 30/9/1998 và Phạm Thị Trang, sinh ngày 09/02/2002. Do hiện tại cả hai con chung của bà và ông Hòa đều đã trưởng thành, tự quyết định cuộc sống của mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, Tòa án đã tuyên bố mất tích do vậy, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 143, 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự: Xử cho bà Phạm Thị P được ly hôn ông Phạm Huy H. Về con chung: Con chung của bà Phin, ông Hòa đã trưởng thành, không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Bà Phạm Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bà Phạm Thị P khởi kiện xin ly hôn ông Phạm Huy H; nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã A, huyện An Dương (nay là tổ dân phố V, phường A, quận An Dương), thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa bà Phạm Thị P vắng mặt có đơn xin vắng mặt, ông Phạm Huy H, Tòa án đã tuyên bố mất tích. Do vậy, Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Phạm Thị P và ông Phạm Huy H.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập có đủ cơ sở xác định lời khai của bà Phạm Thị P về thời gian, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Năm 2015, ông Phạm Huy H đã bỏ đi khỏi nơi cư trú cho đến nay không có tin tức gì. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2024/QĐST- VDS ngày 22/8/2024 Tòa án nhân dân huyện An Dương (nay là quận An Dương), thành phố Hải Phòng đã tuyên bố ông Phạm Huy H là người mất tích. Quá trình giải quyết vụ án, bà Phin có quan điểm do tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Hòa không còn, hôn nhân không có hạnh phúc đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Huy H.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Phin và ông Hòa đã trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu xin ly hôn của bà Phin đối với ông Hòa là có cơ sở. Căn cứ vào Điều 51; khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự xử cho bà Phạm Thị P được ly hôn ông Phạm Huy H.
Về con chung: Bà Phạm Thị P và ông Phạm Huy H có 02 con chung là Phạm Thị Thúy Hiền, sinh ngày 30/9/1998 và Phạm Thị Trang, sinh ngày 09/02/2002. Do hai con chung của bà Phin và ông Hòa đều đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không giải quyết
Về tài sản chung: Bà Phạm Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Phạm Huy H, Tòa án đã tuyên bố là người mất tích. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết. Sau này ông Hòa trở về có yêu cầu, Toà án giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí: Bà Phạm Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị P được ly hôn ông Phạm Huy H.
2. Về con chung: Con chung của bà Phạm Thị P và ông Phạm Huy H là Phạm Thị Thúy Hiền, sinh ngày 30/9/1998 và Phạm Thị Trang, sinh ngày 09/02/2002 đã trên 18 tuổi, Hội đồng xét xử không giải quyết,
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết sau này các bên có yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí: Bà Phạm Thị P phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn bà Phin đã nộp (biên lai thu tiền số 0008488 ngày 02/10/2024) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương (nay là quận An Dương), thành phố Hải Phòng. Bà Phạm Thị P đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo bản án: Bà Phạm Thị P và ông Phạm Huy H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND TP. Hải Phòng;
- VKSND quận An Dương;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương;
- UBND phường A (ĐKKH số 25/2003);
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Thu Hương THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Quý
Bùi Thị Nhàn
Vũ Văn Thi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND TP. Hải Phòng;
- VKSND huyện An Dương;
- Chi cục Thi hành án dân sự An Dương;
- UBND xã Bắc Sơn (ĐKKH số 04/2013 ngày 23/01/2013);
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Thu Quý
nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Quý Nguyễn Thị Lợi
Đỗ Văn Thư
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng. - VKSND huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự An Dương; - UBND xã Đại Bản (ĐKKH ngày 30/01/2012); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Quý |