vanban.org

Bản án 02/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị T ly hôn với anh Quách Văn L. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao các cháu Quách Văn L1 sinh 06/01/2008, Quách Thị T1 sinh 24/02/2009 cho anh Quách Văn L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân 02"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09-01-2025
V/v: Ly hôn, giải quyết về con chung khi
ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Khắc Thái.

- Ông Nguyễn Văn Phiếu.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Tạo - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngần – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 256/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Quách Văn L, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Các đương sự có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 11 năm 2024, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:

Về diễn biến quan hệ hôn nhân và gia đình: Chị Bùi Thị T và anh Quách Văn L kết hôn năm 2007, có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Sau khi cưới anh chị sinh sống tại cùng nhau tại Thôn G, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Chị xác định anh chị sống hạnh phúc khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về mọi mặt. Nguyên nhân chính là do anh L gia trưởng hay chửi mắng chị. Hiện nay anh chị đã ly thân, chị đã đi nơi khác sinh sống. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh L vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là các cháu Quách Văn L1 sinh 06/01/2008, Quách Thị T1 sinh 24/02/2009. Hiện cả hai cháu đang ở với anh L, nếu ly hôn chị đồng ý cho anh L tiếp tục nuôi các cháu, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.000.000đ/tháng kể từ tháng 1/2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của anh Quách Văn L thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 29/11/2024: Anh xác nhận thời điểm kết hôn và chung sống như chị T trình bày là đúng. Theo anh vợ chồng chỉ có mâu thuẫn nhỏ, anh không đánh đập, chửi bới chị T. Đầu năm 2024 chị T bảo ra ngoài làm ăn sau đó đến tháng 3/2024 anh phát hiện chị T có quan hệ với người khác thông qua việc anh kiểm tra tin nhắn điện thoại của chị T. Chị T đi từ đầu năm cũng không về nhà mà chỉ điện thoại cho con, nay chị T xin ly hôn với anh thì anh không muốn, vì anh muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dậy con cái. Tuy nhiên nếu chị T vẫn cương quyết xin ly hôn với anh thì anh đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Về con chung: Anh xác định anh và chị T có 02 con chung là các cháu Quách Văn L1 sinh 06/01/2008, Quách Thị T1 sinh 24/02/2009. Hiện cả hai cháu đang ở với anh. Nếu chị T vẫn cương quyết xin ly hôn với anh thì anh xin nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của các cháu Quách Văn L1, Quách Thị T1: Các cháu xác nhận đang ở với bố, nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu xin tiếp tục ở với anh L.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã tiến hành giải quyết theo quy định. Tuy nhiên anh L đã từ chối tham gia hòa giải vì vậy vụ án không tiến hành hòa giải được, vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại đơn xin xử vắng mặt chị T vẫn giữ quan điểm như đơn khởi kiện và bản tự khai.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện Nho Quan thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015.

- Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là“Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về hình thức, nội dung.

- Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 5, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTCQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí.

Đề nghị xử:

1. Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Quách Văn L.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao hai cháu Quách Văn L1 sinh 06/01/2008, Quách Thị T1 sinh 24/02/2009 cho anh Quách Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được cuộc sống. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị T mỗi tháng 1.000.000đ/cháu kể từ tháng 1/2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Nguyên đơn chị Bùi Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

. Về hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được với nhau thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về mọi mặt, thực tế hai bên đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Bản thân anh L không muốn ly hôn vì anh muốn con cái được có cả bố và mẹ, tuy nhiên anh lại từ chối tham gia hòa giải tại Tòa án. Anh L cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã ly thân. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh L là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về nuôi con chung: Chị T và anh L có 02 con chung là các cháu Quách Văn L1 sinh 06/01/2008, Quách Thị T1 sinh 24/02/2009. Anh L có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T cũng đồng ý cho anh L được nuôi cả hai cháu. Hội đồng xét xử xét thấy, anh L khỏe mạnh có thu nhập, mặt khác cháu L1 và cháu T1 đã lớn tự chăm sóc được bản thân, các cháu lại có nguyện vọng được tiếp tục ở với anh L. Vì vậy việc giao cả hai cháu cho anh L tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đảm bảo quyền và lợi ích cho các cháu và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh L không có yêu cầu tuy nhiên chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai cháu là 1.000.000đ /tháng/cháu. Xét đây là trách nhiệm cũng như đảm bảo quyền lợi của các cháu nên cần ghi nhận. [2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị T ly hôn với anh Quách Văn L.

2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao các cháu Quách Văn L1 sinh 06/01/2008, Quách Thị T1 sinh 24/02/2009 cho anh Quách Văn L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Chị Bùi Thị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Quách Văn L mức: 1.000.000 đồng/tháng/1cháu. Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 1/2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày anh L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị T không thi hành hết số tiền cấp dưỡng nuôi con theo thỏa thuận thì hằng tháng chị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí:

3.1. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001421 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan.

3.2. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ