- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thj Kiều 0-Huỳnh Công D"
- Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 02/2025/HNGĐ- ST Ngày: 17-01-2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Mưa Lớn
2. Ông Huỳnh Hiếu Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 355/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 2001; Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Công D, sinh năm 1998; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Chị O xin vắng mặt, anh D vắng mặt không lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/9/2024 cũng như trong quá trình tố tụng chị Nguyễn Thị Kiều O trình bày:
Chị và anh D do quen biết tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 16/9/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc và có với nhau 01 con chung tên Huỳnh Thị Thu N, sinh ngày 29/9/2020. Đến đầu năm 2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thiếu sự yêu thương chăm sóc lẫn nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn đối với anh D.
Về con chung: Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Thu N, sinh ngày 29/9/2020, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: Không có
Anh Huỳnh Công D vắng mặt tại phiên toà cũng như trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm cho rằng:
- Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên vi phạm quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O đối với anh D cụ thể:
+ Về hôn nhân: chị O và anh D được ly hôn với nhau.
+ Về con chung: Sau khi ly hôn chị O trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Thu N, sinh ngày 29/9/2020, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị O không yêu cầu.
+ Về tài sản chung: chị O khai không có nên không xem xét giải quyết.
+ Về nợ chung: chị O khai không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2024 của chị Nguyễn Thị Kiều O đối với anh Huỳnh Công D thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
Anh Huỳnh Công D có nơi cư trú tại xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc thụ lý đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho anh D đến để tham gia phiên tòa nhưng anh D vắng mặt không rõ lý do đồng thời trong quá trình tố tụng chị O có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt . Do đó, căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh D và chị O là phù hợp.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Kiều O và anh Huỳnh Công D tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2029 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh chị cũng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị O là có căn cứ nên được chấp nhận, bởi lẽ anh D và chị O đã có thời gian ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị O và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O đối với anh D là phù hợp.
2.2. Về con chung:
Trong thời gian chung sống chị Nguyễn Thị Kiều O và anh Huỳnh Công D có 01 con chung tên Huỳnh Thị Thu N, sinh ngày 29/9/2020. Hiện cháu N đang sống với chị O đồng thời chị O cũng yêu cầu tiếp nuôi dưỡng con chung và anh D cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị O. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu N không bị thay đổi, không làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao cháu N cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Do chị O không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2.3 Về tài sản chung: chị O khai không có nên không xem xét giải quyết.
2.4 Về nợ chung: chị O khai không có nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Kiều O phải có nghĩa vụ nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các điều 51, 53, 54, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều O đối với anh Huỳnh Công D, cụ thể tuyên:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều O và anh Huỳnh Công D được ly hôn với nhau.
2. Về con chung: Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Thu N, sinh ngày 29/9/2020, anh Huỳnh Công D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Kiều O không yêu cầu.
Anh Huỳnh Công D được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3 Về tài sản chung: chị O khai không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: chị O khai không có nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Kiều O có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004648 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi thường trú.
| Nơi nhận: - TAND Bến Tre (1b); - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc (2b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc (1b); - UBND xã Tân Thanh Tây(1b); - Những người tham gia tố tụng (2b); - Lưu HS, VP, THA (4b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Diễm |