vanban.org

Bản án 02/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơ Kết K’Lu, xử cho chị Sơ Kết K’L và anh Cil Ha Nh được ly hôn.

Về án phí: Chị Sơ Kết Ha Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị K’L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002126 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dư. Chị K’L đã nộp đủ. Quyền kháng cáo: Nguyên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sơ Kết K'Luyên và Cil Ha Nhương xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơ Kết K’Lu, xử cho chị Sơ Kết K’L và anh Cil Ha Nh được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/03/2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy V.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Phương A;

2. Ông Dương Văn N.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Ph - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST – HNGĐ ngày 23/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST – HNGĐ ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Sơ Kết K’ L, sinh năm: 1996

Nơi cư trú: Thôn Long L, xã Đạ Cha, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đg. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Cil Ha Nh, sinh năm: 1993.

Nơi cư trú: Thôn Long L, xã Đạ Ch, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2024; bản tự khai và lời trình bày (tại phiên tòa) của nguyên đơn chị Sơ Kết K’ L:

Chị K’Luyên và anh Cil Ha Nh kết hôn vào ngày 03/02/2015, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đạ ch, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ. Hôn nhân của chị hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Cil Ha Nh thường xuyên rượu chè, ghen tuông và bạo lực gia đình. Hai bên gia đình nội ngoại đã hòa giải cho anh chị nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, không thể hàn gắn được với nhau. Chị và anh Cil Ha Nh đã gửi đơn đến Tòa án đề nghị giải quyết ly hôn vào năm 2019 và được Tòa án hòa giải nên rút đơn để đoàn tụ nhưng anh Cil Ha Nh vẫn không thay đổi tiếp tục đánh đập chị K’L nhiều lần. Chị K’L cũng đã nhờ chính quyền địa phương tiến hành hòa giải nhiều lần cho hai vợ chồng nhưng vẫn không thể hàn gắn được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nên chị K’L yêu cầu được ly hôn với anh Cil Ha Nh.

- Về con chung: chị K’L xác định vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: chị K’L xác định vợ chồng tự thỏa thuận tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: chị K’L xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Cil Ha Nh: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi cho anh Cil Ha Nhg các văn bản tố tụng theo địa chỉ nơi anh Cil Ha Nh cư trú. Tuy nhiên anh Cil Ha Nh vắng mặt thường xuyên tại nơi cư trú, không đến Tòa án làm việc nên không có được lời trình bày của anh Cil Ha Nh trong hồ sơ vụ án.

Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Cil Ha Nh biết, để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đồng thời Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được do anh Cil Ha Nh vắng mặt

Tại phiên tòa chị Sơ Kết K’L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện và bản tự khai, còn bị đơn thì vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc D phát biểu ý kiến:

- Về việc đã tuân theo quy định pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có ý kiến gì.

- Về việc giải quyết vụ án theo hướng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Sơ Kết K’L, xử cho chị Sơ Kết K’L và Cil Ha Nh được ly hôn. Về con chung; về tài sản chung và nợ chung: chị Sơ Kết K’Luyên xác định không có, không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết. Về án phí: buộc chị K’L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đây là quan hệ tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình” quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữa chị Sơ Kết K’L và anh Cil Ha Nh. Nguyên đơn chị Sơ Kết K’L và bị đơn anh Cil Ha Nh đều có nơi cư trú tại thôn Long L (Klong Kl), xã Đạ Ch, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ (theo kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án) nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ.

Tại phiên toà, nguyên đơn chị Sơ Kết K’L có mặt tại phiên tòa, bị đơn anh Cil Ha Nh vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt anh Cil Ha Nh theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Sơ Kết K’L và bị đơn anh Cil Ha Nh xây dựng gia đình với nhau năm 2015 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đạ Ch, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Qua xác minh tại địa phương: Vợ chồng chị Sơ Kết K’L và anh Cil Ha Nh không sống cùng nhau nhiều năm nay. Vợ chồng chị K’L và anh Nh đã hai lần nhờ chính quyền địa phương tiến hành hòa giải cho vợ chồng anh chị vào ngày 24/8/2023 và ngày 16/9/2024. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Cil Ha Nh thường xuyên rượu chè, không chịu làm ăn. Thương xuyên đánh đập, cãi vã nhau với chị K’L. Chị K’L xác định hiện nay anh Cil Ha Nh đã về nhà sống cùng với bố mẹ đẻ tại Thôn Long L, xã Đạ Cha, huyện Lạc Dg, vợ chồng đã sống ly thân, vợ chồng không có con chung là phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án.

Xét thấy, vợ chồng chị K’L và anh Nh đã sống ly thân nhiều năm, vợ chồng anh chị đã được Tòa án hòa giải đoàn tụ theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 09/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lạc D; được chính quyền địa phương hòa giải hai lần ở cơ sở vào năm 2023 và 2024 nhưng tình trạng hôn nhân của anh chị không được cải thiện. Chị K’Luyên cũng xác định hôn nhân không thể cứu vãn và mẫu thuẫn đã kéo dài không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng anh chị cũng không có con chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cở sở để xem xét.

Về con chung: chị Sơ Kết K’L xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung này.

Về tài sản chung: chị Sơ Kết K’L xác định vợ chồng tự thỏa thuận tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung này. Về phía anh Cil Ha Nh không có lời khai nên Hội đồng xét xử không xem xét đề cập đến tách nội dung này để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu khởi kiện.

Về nợ chung: chị Sơ Kết K’L xác định vợ chồng không có nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. Về phía anh Cil Ha Nh không có lời khai nên Hội đồng xét xử không xem xét đề cập đến tách nội dung này để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu khởi kiện.

Về án phí: Buộc chị Sơ Kết K’L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơ Kết K’Lu, xử cho chị Sơ Kết K’L và anh Cil Ha Nh được ly hôn.

2. Về án phí: Chị Sơ Kết Ha Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị K’L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002126 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dư. Chị K’L đã nộp đủ.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đ xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ