- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị B yêu cầu ly hôn anh T"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07-01-2025 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Tâm.
Bà Lê Thị Ánh Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Út B, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Kinh Năm Đ, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Khu công nghiệp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đỗ Quốc T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 8 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Út B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Út B và anh Đỗ Quốc T tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống chị B và anh T chung sống hạnh phúc. Đến tháng 05 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống. Chị B và anh T sống ly thân từ tháng 08 năm 2021 cho đến nay.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Phạm Út B và anh Đỗ Quốc T có 01 con chung tên Đỗ Phạm Thảo N, sinh ngày 29/12/2017, hiện nay cháu Thảo N đang chung sống với anh T.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Tự thỏa thuận.
Nay chị Phạm Út B yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Út B yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Quốc T.
- Về con chung: Chị Phạm Út B thống nhất giao con chung tên Đỗ Phạm Thảo N, sinh ngày 29/12/2017 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, chị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số: 158/TB-TLVA ngày 18 tháng 10 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Đỗ Quốc T, nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị B. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt không có lý do, chị B có đơn yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của anh T trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau thời gian dài, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Chị B và anh T có 01 con chung tên Đỗ Phạm Thảo N, sinh ngày 29/12/2017. Hiện nay, cháu N đang chung sống chung với anh T, do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị B đồng ý giao cháu N cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Phạm Thảo N, sinh ngày 29/12/2017 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, trong quá trình giải quyết vụ án anh T không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho chị B mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị B có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Út B, nơi thường trú: Kinh Năm Đ, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú hiện nay: Khu công nghiệp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; anh Đỗ Quốc T, cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chị B có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Quốc T. Chị B đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị B nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị B đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của chị Phạm Út B là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Phạm Út B và bị đơn anh Đỗ Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Chị B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và anh T vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Út B và anh Đỗ Quốc T.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Út B, sinh năm 1989 và anh Đỗ Quốc T, sinh năm 1993 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 16 tháng 8 năm 2017 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Út B và anh Đỗ Quốc T là hợp pháp.
Xét lý do xin ly hôn của chị Phạm Út B, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng chị B và anh T hạnh phúc được một thời gian. Đến tháng 8 năm 2021, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng không còn hạnh phúc, chị B và anh T không còn sống chung từ tháng 8 năm 2021 cho đến nay. Chị B và anh T đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị B và anh T trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B.
Về con chung: Chị B và anh T có 01 con chung tên Đỗ Phạm Thảo N, sinh ngày 29/12/2017. Hiện nay, cháu N đang sống chung với anh T, đang do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị B đồng ý giao cháu N cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu N. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Phạm Thảo N, sinh ngày 29/12/2017 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị B và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung đến tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, chị Phạm Út B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị B không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Phạm Út B là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, chị B phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Út B và anh Đỗ Quốc T ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Phạm Thảo N, sinh ngày 29/12/2017 cho anh Đỗ Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị Phạm Út B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị B không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Chị Phạm Út B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004529 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị Phạm Út B đã nộp xong án phí.
6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cù Lao Dung; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV & THA); - UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đặng Phước Tuấn |