- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hà Thị L kiện Hà Thị H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L. Buộc bà Hà Thị H phải trả cho bà Hà Thị L số tiền 55.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/DS-ST Ngày: 24/04/2025 “V/v kiện đòi nợ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang H- Ông Phan Công L
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng D - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm L - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 04 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 24/TLST- DS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị L; sinh năm 1965; Trú tại: Thôn Hưng Thắng, xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nghề nghiệp: làm ruộng (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Hà Thị H, sinh năm 1970; Trú tại: thôn Hưng Thắng, xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nghề nghiệp: làm ruộng (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Huy D, sinh năm 1967; Trú tại: Thôn Hưng Thắng, xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nghề nghiệp: làm ruộng, (Có mặt).
NỘI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: vào ngày 09/5/2023, bà Hà Thị H đến nhà bà bà Liệu vay số tiền 55.000.000 đồng khoản tiền vay này bà Hoa nói cần vay gấp để “Đặt cọc tiền mua nhà cho con”, và hẹn đến mùa trả lúa, khi vay có viết giấy vay nợ, bà Liệu là người viết còn bà Hà Thị H ký giấy vay nợ, nhưng từ đó đến nay Bà Hoa vẫn chưa trả số tiền vay trên cho bà Hà Thị L. Nay bà Hà Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Hà Thị H trả số tiền 55.000.000đ đồng tiền gốc, không tính tiền lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Hà Thị H trình bày: Vào ngày 09/5/2023 bà Hoa có đến nhà bà Hà Thị L vay số tiền 55.000.000đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), bà Hà Thị L là người cho vay còn ông Hà Huy D (chồng bà Liệu) là người đưa tiền, loại tiền có mệnh giá 500.000 đồng, mục đích vay tiền là để “Đặt cọc tiền mua nhà cho con” khi vay đưa bằng tiền mặt hai bên không ký kết hay lập văn bản nào về việc vay nợ và có hẹn sau 5 ngày sẽ thanh toán khoản nợ trên, theo bà Hà Thị H đến ngày 15/5/2023 bà đã trực tiếp đến trả tiền cho bà Hà Thị L, ông Hà Huy D (chồng bà Hà Thị Liệụ) là người nhận tiền. Bà Hà Thị H thừa nhận có vay tiền của bà Hà Thị L với số tiền 55.000.000đồng vào ngày 09/5/2023 và khẳng định là đã trả cho ông Hà Huy D vào ngày 15/5/2023 nhưng khi trả nợ chỉ trao trả bằng tay không ký kết văn bản hay giấy tờ chứng cứ nào khác về xác thực việc trả nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Huy D trình bày: Vợ tôi là Hà Thị L có cho bà Hà Thị H vay số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), tôi là người đưa tiền cho bà Hà Thị H vay vào ngày 09/5/2023 nhưng kể từ đó đến nay bà Hoa vẫn chưa trả số tiền vay đó cho vợ chồng tôi.
hát i u của đại diện iện ki m sát tại phiên toà:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tranh tụng đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tố tụng của các đương sự; đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 463, 466 Bộ luậ dân sự, điểm b khoản 1 điều 24, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Hà Thị H phải trả cho bà Hà Thị L số tiền nợ 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng).
- Về án phí: Buộc bà Hà Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Về tố tụng: Bà Hà Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Hà Thị H trả số tiền vay là 55.000.000đồng (Năm mươi lăm triệu đồng); bị đơn có nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay tại xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Về nội dung:
Xét các tài liệu chứng cứ, lời khai của Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có tại hồ sơ xác định: Ngày 09/5/2023 bà Hà Thị L cho bà Hà Thị H vay số tiền 55.000.000đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) với mục đích đặt cọc tiền mua nhà cho con, và có hẹn ngày trả, theo bà Liệu thì bà Hoa hẹn đến mùa lúa sẽ trả số tiền trên, còn bà Hoa khai sẽ trả trong thời hạn 5 ngày. Việc vay và cho vay của các đương sự là trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, không bị lừa dối, không trái đạo đức xã hội, các chủ thể có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi. Như vậy xác định đây là giao dịch cho vay có thời hạn có hiệu lực, nên việc bà Liệu làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Hoa trả nợ là có căn cứ đúng theo điều 463 Bộ Luật dân sự.
Giấy vay tiền bà Liệu cung cấp có chữ ký của bà Hoa nhưng bà Hoa không thừa nhận, theo yêu cầu của nguyên đơn bà Hà Thị L, tòa án đã ra quyết định trưng cầu giám định chữ ký chữ viết nhưng Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh đã từ chối giám định, lý do: không đủ cơ sở để kết luận giám định do chữ ký dưới dạng chữ viết “Hoa” là chữ viết đơn giản, có ít đặc điểm để truy nguyên. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 30/10/2024, ngày 06/11/2024, biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2024, các buổi làm việc và hòa giải cũng như tại phiên tòa bà Hà Thị H thừa nhận vào ngày 09/5/2023 bà có đến nhà bà Hà Thị L vay bà Hà Thị L số tiền 55.000.000 đồng, loai tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng, với mục đích vay “đặt cọc tiền mua nhà cho con”. Việc bà Hoa đã thừa nhận vay bà Liễu số tiền nêu trên là sự việc không cần phải chứng minh theo khoản 2 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy, việc bà Liệu yêu cầu bà Hoa trả nợ là hoàn toàn có căn cứ.
Về phía bị đơn bà Hà Thị H, quá trình giải quyết vụ án bà Hà Thị H cho rằng ngày 15/5/2023 bà đã trả đủ số tiền vay 55.000.000 đồng cho ông Duyệt và có mặt của bà Liệu. Ngày 23/10/2024 tòa án đã ra quyết định yêu cầu bà Hoa cung cấp chứng cứ, bà Hoa đã giao nộp bản sao kê tài khoản 0201000602936 Vietcombank Hà Tĩnh – Chi nhánh Cẩm Xuyên mang tên Hà Văn Hiệp từ ngày 20/6/2023 đến 20/7/2023, thể hiện ngày 01/7/2023 đã rút 57.000.000 đồng, bà Hoa cho rằng đây là số tiền con bà gửi về và bà đã rút để trả nợ cho bà Liệu. Tuy nhiên, xét thấy quá trình giải quyết vụ án bà Hoa khai nhận đã trả nợ cho bà Liệu vào ngày 15/5/2023 nhưng việc bà Hoa rút số tiền trên để làm gì, có trả cho bà Liệu hay không bà cũng không có chứng cứ, tài liệu gì chứng minh. Ngày 08/12/2024 tòa án tiếp tục ban hành quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng bà Hoa không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh việc đã trả nợ cho bà Liệu. Vì vây, theo quy định tại khoản 2, khoản 4 điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự việc bà Hoa cho rằng đã trả số tiền 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng) cho bà Liệu là không có căn cứ để xem xét.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu bị đơn trả khoản tiền gốc là 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng). Xét yêu cầu này của nguyên đơn có lợi cho bị đơn nên có căn cứ chấp nhận.
ề án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự về phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận: 55.000.000đồng x 5% = 2.750.000.000đồng. Trả lại cho bà Hà Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên.
ề quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
ì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 463, 466 Bộ luật Dân sự; điểm b Khoản 1 Điều 24, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L. Buộc bà Hà Thị H phải trả cho bà Hà Thị L số tiền 55.000.000đồng (Năm mươi lăm triệu đồng).
2. Về án phí: Buộc bà Hà Thị H phải chịu 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho bà Hà Thị Liệụ 1.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, theo biên lai số 0004716, ngày 15/10/2024.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Cẩm Xuyên; - Chi cục THADS huyện Cẩm xuyên; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh T |