- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn D (Hủy hoại nguồn lợi thủy sản) - phạm tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (điều 242 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 24 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Thái.
Bà Đàm Thị Thanh Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Giang Tấn Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường Nhà Văn hóa Ủy ban nhân dân xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2023/TLST-HS, ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn D, sinh ngày 01-01-1979 tại thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Lê Thị Kim A và 03 con; Tiền án: Không. Tiền sự: Có 01 tiền sự, bị xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi sử dụng xung điện đánh bắt thủy sản trái phép theo Quyết định số 15/QĐ-XPHC ngày 31-01-2023 của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã N; Nhân thân: Trong thời gian bị truy tố, bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 273/QĐ-XPHC ngày 31-10-2023 của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã N; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10-8-2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1968; cư trú tại: Ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1964; cư trú tại: Ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22-3-2023 bị cáo Lê Văn D, sinh ngày 01-01-1979, địa chỉ: Ấp V, xã V, thị xã N, sử dụng bộ kích điện được đấu nối đường dây điện vào bình ắc quy loại 12V- 28 AH để tạo nguồn điện đầu vào, và một đường dây điện còn lại đấu nối từ bộ kích điện vào 02 cây vợt bằng gỗ trúc, mỗi cây vợt có gắn khung vợt bằng kim loại để tạo điện áp xung ở đầu ra, sau đó bị cáo Lê Văn D đi đến phần đất ruộng của bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Văn C1 (cũng ở ấp V, xã V, thị xã N), và dùng xung điện này để đánh bắt thủy sản. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 22-03-2023 nhận được tin báo của nhân dân, lực lượng Công an xã V tiến hành kiểm tra, phát hiện bị cáo Lê Văn D đang sử dụng bộ kích điện đánh bắt thủy sản trái phép, nên tiến hành lập biên bản tạm giữ của bị cáo Lê Văn D: 01 bộ kích điện, 01 bình ắc quy hiệu Đồng Nai loại 12V- 28 AH, 02 cây vợt bằng gỗ trúc, và 01 giỏ xách chứa 5,6 kg cá (trong đó cá trê 3 kg, cá rô 2,6 kg), đồng thời mời bị cáo Lê Văn D về cơ quan Công an để làm việc. Qua làm việc bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã nêu trên.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 25-5-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã N, xác định giá trị tài sản trong vụ án “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản”, với số lượng: Cá trê 3 kg trị giá số tiền 115.000 đồng, và cá rô 2,6 kg trị giá số tiền 156.000 đồng. Tổng giá trị thủy sản thu được với số tiền là 271.000 đồng.
Theo bản kết luận giám định số: 3393/KL-KTHS ngày 31-5-2023, của V tại TP . kết luận:“Khi kết nối bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V – 28AH vào bộ kích điện và cho các thiết bị hoạt động thì điện áp xung ở đầu ra lớn nhất đo được là 1901V. Với mức điện áp xung này, khi 02 điện cực (hoặc điện cực nối dài) của kích nằm trong môi trường nước thì có khả năng sẽ gây nguy hại cho thủy sản khi tiếp xúc với nước trong phạm vi giữa 02 điện cực”.
Qua tra cứu trích lục tiền án, tiền sự, thì trước đó vào ngày 31-01-2023 bị cáo Lê Văn D đã bị UBND xã V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng xung điện đánh bắt thủy sản trái phép”, và đến nay bị cáo Lê Văn D vẫn chưa chấp hành việc đóng phạt. Nên ngày 10-8-2023 bị cáo Lê Văn D bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã N khởi tố về tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 242 của Bộ luật hình sự năm 2015, và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
Cáo trạng số 45A/CT-VKSNN ngày 30-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 242 của Bộ luật Hình sự.
Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 hộp kích điện có vỏ bằng nhựa màu đen, kết nối với dây điện có gắn hai kẹp bằng kim loại, có số đo: ngang 16,5 cm, rộng 06 cm, cao 09 cm; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V -28AH; 01 khúc gỗ trúc màu vàng nhạt chiều dài 2,3 m, đường kính lớn nhất 2,3 cm, đường kính nhỏ nhất 1,6 cm, một đầu có gắn khung kim loại có số đo 20 x 8 cm được nối một sợi dây điện đơn dài 3,6 m; 01 khúc gỗ trúc có chiều dài 1,79 m, đường kính lớn nhất 2,4 cm, đường kính nhỏ nhất 1,8 cm, một đầu có gắn khung kim loại có số đo 20 x 8 cm được nối một sợi dây điện đơn dài 3,52 m, trên thân vợt có công tắc tự chế bằng nhựa được nối dây điện đôi dài 1,8 m; 01 thùng bằng kim loại màu trắng, có gắn hai dây đeo, có số đo: cao 33 cm, ngang 31 cm, rộng 16 cm; 01 thùng nhựa tròn màu xanh, có số đo: cao 25 cm, đường kính 30 cm.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Sóc Trăng giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận; sau khi phân tích hành vi, mức độ phạm tội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 242; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 tháng đến 05 tháng tù về tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản”. Về xử lý vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng nêu trên.
- Bị cáo Lê Văn D thống nhất với bản cáo trạng, thừa nhận cáo trạng truy tố đúng với toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trong phần tranh luận, bị cáo thống nhất với tội danh và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Cơ quan điều tra Công an thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Văn C1: Xét thấy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không làm cản trở đến việc xét xử vụ án. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nêu trên.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai, tường trình của bị cáo trong quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở xác định vào ngày 22-3-2023, bị cáo Lê Văn D có hành vi sử dụng bộ kích điện được đấu nối dây điện với bình ắc quy loại 12V-28AH tạo ra nguồn điện có điện áp cao để đánh bắt thủy sản trái phép trên tuyến Kênh Bào N, kênh nội đồng và phần đất ruộng của bà Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Văn C1 (ở ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng).
[4] Hành vi của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Mặc dù tổng giá trị nguồn lợi thủy sản đánh bắt được dưới 50.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng xung điện đánh bắt thủy sản trái phép vào ngày 31-01-2023, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm lần này. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn D phạm tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 242 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng truy tố đối với hành vi của bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
[5] Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt, HĐXX xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau đây của bị cáo:
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng xung điện đánh bắt thủy sản trái phép theo Quyết định số 15/QĐ-XPHC ngày 31-01-2023 của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã N. Đồng thời, trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo không chấp hành tốt pháp luật ở địa phương mà đã có hành vi trộm cắp tài sản nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 273/QĐ-XPHC ngày 31-10-2023 của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã N.
[9] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân không tốt, từng bị xử phạt vi phạm hành chính và tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mặt khác, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, việc khai thác nguồn lợi thủy sản phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Do đó, hành vi dùng dòng điện đánh bắt thủy sản trái phép của bị cáo là hành vi nguy hiểm, làm tận diệt nguồn lợi thủy sản của địa phương, gây bức xúc trong dư luận. Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên HĐXX quyết định xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn và áp dụng thêm khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[10] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.
[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 5,6 kg cá (trong đó cá trê 3kg, cá rô 2,6kg), Công an xã V, thị xã N đã tiến hành tiêu hủy theo quy định nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với 01 hộp kích điện có vỏ bằng nhựa màu đen, kết nối với dây điện có gắn hai kẹp bằng kim loại, có số đo: ngang 16,5 cm, rộng 06 cm, cao 09 cm; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V -28AH; 01 khúc gỗ trúc màu vàng nhạt chiều dài 2,3 m, đường kính lớn nhất 2,3 cm, đường kính nhỏ nhất 1,6 cm, một đầu có gắn khung kim loại có số đo 20 x 8 cm được nối một sợi dây điện đơn dài 3,6 m; 01 khúc gỗ trúc có chiều dài 1,79 m, đường kính lớn nhất 2,4 cm, đường kính nhỏ nhất 1,8 cm, một đầu có gắn khung kim loại có số đo 20 x 8 cm được nối một sợi dây điện đơn dài 3,52 m, trên thân vợt có công tắc tự chế bằng nhựa được nối dây điện đôi dài 1,8 m; 01 thùng bằng kim loại màu trắng, có gắn hai dây đeo, có số đo: cao 33 m, ngang 31 m, rộng 16 m; 01 thùng nhựa tròn màu xanh, có số đo: cao 25 m, đường kính 30 m. Tất cả các vật chứng nêu trên đều là công cụ dùng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
[12] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[13] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 242; Điều 38, Điều 47; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản”.
1. Xử phạt bị cáo 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 hộp kích điện có vỏ bằng nhựa màu đen, kết nối với dây điện có gắn hai kẹp bằng kim loại, có số đo: ngang 16,5 cm, rộng 06 cm, cao 09 cm; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V -28AH; 01 khúc gỗ trúc màu vàng nhạt chiều dài 2,3 m, đường kính lớn nhất 2,3 cm, đường kính nhỏ nhất 1,6 cm, một đầu có gắn khung kim loại có số đo 20 x 8 cm được nối một sợi dây điện đơn dài 3,6 m; 01 khúc gỗ trúc có chiều dài 1,79 m, đường kính lớn nhất 2,4 cm, đường kính nhỏ nhất 1,8 cm, một đầu có gắn khung kim loại có số đo 20 x 8 cm được nối một sợi dây điện đơn dài 3,52 m, trên thân vợt có công tắc tự chế bằng nhựa được nối dây điện đôi dài 1,8 m; 01 thùng bằng kim loại màu trắng, có gắn hai dây đeo, có số đo: cao 33 cm, ngang 31 cm, rộng 16 cm; 01 thùng nhựa tròn màu xanh, có số đo: cao 25 cm, đường kính 30 cm.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thị xã Ngã Năm; - CQCSĐT Công an thị xã Ngã Năm; - CQTHAHS Công an thị xã Ngã Năm; - Chi cục THADS thị xã Ngã Năm; - UBND xã Vĩnh Quới; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Lâm |