- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngư…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 19-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Động
2. Bà Phan Thị Trúc Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/ HSST-QĐ ngày 18/12/2023 và quyết định hoãn phiên toà số 02/2024/QĐST-HS ngày 05/01/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: Chó Con) - sinh ngày 01/01/1987;
Nơi cư trú: Ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Vợ: Võ Thị Minh T , sinh năm 1991; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án: Vào ngày 11/11/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tại Bản án số: 89/2013/HSST (Chấp hành xong vào ngày 14/9/2019 đã xóa án tích). Tiền sự: Vào ngày 22/12/2022 bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Nguyễn Thành T - sinh ngày 20/02/2003;
Nơi cư trú: Ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981 và bà Đào Thu T, sinh năm 1983.
Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 15/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang ra Quyết định số 26/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng. Bị cáo hiện đang chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang (có mặt).
* Người bị hại:
Trương Văn V - sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Thạnh Trúc, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang
* Người làm chứng:
1. Nguyễn Văn V (V Lùn) - sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
2. Võ Văn T - sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
3. Phan Thị N - sinh năm 1971 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
4. Nguyễn Thanh H - sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 16/3/2023, Nguyễn Văn T (Chó Con) dùng xe mô tô chở Nguyễn Thành T đi tìm Nguyễn Hoàng T (T Kim Cương) để lấy tiền do Nguyễn Hoàng T thiếu trước đó, khi đến khoảng đất trống thuộc ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang, thì Nguyễn Văn T điện thoại cho Nguyễn Văn V (V Lùn) nói đang ở khoảng đất trống gần nhà V và hỏi V mượn một cây dao để phòng thân vì trước đó giữa Nguyễn Thành T và Nguyễn Hoàng T có mâu thuẫn với nhau, V vào nhà lấy cây dao (thường gọi Đao cánh bướm dài 48cm) để cho Nguyễn Văn T mượn, khi vừa đi ra khỏi nhà thì Trương Văn V một mình chạy xe mô tô đến và biết Nguyễn Văn V định đi gặp Nguyễn Văn T nên kêu V chạy xe chở Trương Văn V cầm cây dao ngồi phía sau. Khi đến khoảng đất trống Nguyễn Văn V thấy Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T thì dừng xe lại, Trương Văn V nhớ lại trước đó Nguyễn Thành T nói chuyện khiêu khích mình nên Trương Văn V xuống xe cầm dao rượt đuổi chém Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T, thấy vậy Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T bỏ chạy, V đuổi theo một đoạn thì dừng lại. Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T chạy được khoảng 100m thì gặp một đống củi ở cạnh bên đường nên Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T mỗi người vào lấy một cây cầm trên tay rồi cả hai quay trở lại chỗ Trương Văn V đang đứng, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T dùng cây đánh Trương Văn V thì bị V dùng dao chém vào chân trái Nguyễn Thành T một cái, thấy Nguyễn Thành T bị chém, Nguyễn Văn T nhảy vào định ôm V lại thì Nguyễn Văn T cũng bị V dùng dao chém trúng phần môi, sau đó Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T xông vào câu vật Trương Văn V xuống đất, đồng thời nhặt dây chuối và dây nylon ở xung quanh trói tay và chân V lại nhằm mục đích ngăn chặn không cho Trương Văn V thoát ra sẽ tiếp tục gây thương tích cho Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T. Khi trói chân tay Trương Văn V lại, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T dùng cây (đoạn gỗ) tròn đánh lên người Trương Văn V nhiều cái gây thương tích. Nguyễn Văn V thấy môi của Nguyễn Văn T bị chảy máu nên V cởi áo đang mặc đưa cho T lau máu, T lau máu xong đưa áo cho Nguyễn Thành T trói chân Trương Văn V đồng thời Nguyễn Thành T cởi dây thắt lưng trói thêm vào tay của V lại và Nguyễn Thành T tiếp tục dùng cây gỗ đánh vào người V, thấy vậy Nguyễn Văn V và ông Võ Văn T ở gần đó chạy đến và ông T điện thoại trình báo chính quyền địa phương, sau đó Công an xã T đến yêu cầu Thành, Nguyễn Thành T cởi trói cho V rồi đưa V đi cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang điều trị thương tích. Riêng Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T đến Trạm y tế xã T khâu vết thương và lấy thuốc về nhà uống không nhập viện điều trị. Nhận được tin báo, Cơ quan Công an đến lập biên bản khám nghiệm hiện trường, thu giữ gồm: 01 (một) cây dao tự chế có tổng chiều dài 48cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35,5cm, mũi dao sắc nhọn, lưỡi dao sắc, sóng dao tù; 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 134cm, nơi to nhất có đường kính là 14,5cm, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 1,650kg (Nguyễn Văn T dùng đánh Trương Văn V); 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 95cm, một đầu nhọn, đầu còn lại bị nứt nhiều đường, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 0,7kg (Nguyễn Thành T dùng đánh Trương Văn V); 01 (một) cái áo bằng vải, loại áo dài tay có sọc nhiều màu, trên thân áo phía sau có thêu hình nhiều màu không xác định, trên hình thêu và phía trên túi ngực áo bên trái có chữ EVISU (của Nguyễn Văn V); 01 (một) dây thắt lưng màu da bò dài 121cm, một đầu gắn chốt gài bằng kim loại dạng hình chữ nhật (bên trong rỗng) có kích thước 5.5 x 6.5cm, góc đầu bên phải chốt gài có khắc chữ CF, dây thắt lưng dài 114.5cm, trên thân dây có dòng chữ GIORGIO ARMANI (của Nguyễn Thành T); 02 (hai) sợi dây loại dây nylon, màu đỏ, trong đó: 01 (một) sợi dài 26,2cm, một đầu dây có cột nút thắt. 01 (một) sợ dài 76cm, trên dây có 03 (ba) nút thắt, tại nút thắt ở giữa có nối ra một sợi dây nylon cùng loại dài 17,8cm; 01 (một) sợi dây Chuối khô có chiều dài 272cm. (bút lục số 06, 07, 08, 87, 88, 93, 94, 103, 104).
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành trưng cầu giám định thương tích của Trương Văn Vĩ, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành Tuyên.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 290/ KLTTCT-PY ngày 27/4/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích của Trương Văn V như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Sẹo phần mềm vùng đỉnh - chẩm phải, mặt lòng đốt giữa ngón V bàn tay phải và cổ chân phải.
+ Hiện tại vùng mặt, vai trái không thấy dấu vết thương tích do đả thương.
+ Chấn thương bàn tay phải, gãy xương bàn ngón V đã được nắn chỉnh xương gãy và bó bột cẳng bàn tay phải.
- Kết quả cận lâm sàng:
+ Xquang sọ thẳng, nghiêng; Khớp vai thẳng và cổ chấn phải thắng, nghiên: Không thấy hình ảnh bất thướng.
+ Xquang bàn tay phải thẳng, nghiêng; Gảy xương đốt bàn ngón V bàn tay phải, xương di lệch gập góc vào trong ít; Gãy xương đốt gần ngón II tay phải, xương không di lệch.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn V tại thời điểm giám định là: 15% (Mười lăm phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở:
- Vùng đỉnh - chẩm phải là: 01% (Một phần trăm).
- Vùng mặt là: 00% (Không phần trăm).
- Vùng cánh vai trái là: 00% (Không phần trăm).
- Bàn tay phải là: 12,68% (Mười hai phẩy sáu mươi tám phần trăm).
+ Mặt lòng ngón V là: 01% (Một phần trăm).
+ Gãy xương đốt gần ngón II tay phải là: 02 % (Hai phần trăm).
+ Gãy xương bàn ngón V là: 10 % (Mười phần trăm).
- Vùng cổ chân phải (Mắt cá ngoài) là: 02% (Hai phần trăm).
2.3. Vật gây thương tích:
- Thương tích vùng đỉnh - chẩm phải, mặt lòng đốt ngoài ngón V bàn tay phải và cổ chân phải do vật tày có cạnh gây nên.
- Chấn thương bàn tay phải gãy xương bàn ngón V và xương đốt gần ngón II do vật tày gây nên.
- Hiện tại vùng mặt, vai trái không thấy dấu vết thương tích do đả thương nên không có cơ sở để kết luận vật gây ra thương tích, (bút lục số 72, 73, 74).
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 338/ KLTTCT-PY ngày 17/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích của Nguyễn Thành T như sau:
1. Các kết quả chính:
Sẹo phần mềm cẳng chân trái.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành T tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Vật gây thương tích: Vật có góc; cạnh sắc, (bút lục số 75, 76, 77).
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 337/ KLTTCT-PY ngày 17/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích của Nguyễn Văn T như sau:
1. Các kết quả chính:
Sẹo phần mềm vùng mặt (Môi dưới, cằm trái).
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là: 06% (Sáu phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Vật gây thương tích: Vật có góc; cạnh sắc, (bút lục số 78, 79, 80).
- Vào ngày 21/7/2023 Nguyễn Thành T có đơn xin rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Trương Văn V.
- Vào ngày 24/7/2023 Nguyễn Văn T có đơn xin rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Trương Văn V và Trương Văn V có đơn xin rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T.
- Ngày 17/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Trương Văn V theo quy định tại khoản 2 Điều 155 và khoản 1 Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự đối với hành vi gây thương tích cho Nguyễn Thành T và Nguyễn Văn T.
* Cáo trạng số 27/CT-VKSTH ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên xử các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án được xử lý như sau:
01 (một) cây dao tự chế có tổng chiều dài 48cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35,5cm, mũi dao sắc nhọn, lưỡi dao sắc, sóng dao tù; 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 134cm, nơi to nhất có đường kính là 14,5cm, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 1,650kg; 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 95cm, một đầu nhọn, đầu còn lại bị nức nhiều đường, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 0,7kg; 01 (một) cái áo bằng vải, loại áo dài tay có sọc nhiều màu, trên thân áo phía sau có thêu hình nhiều màu không xác định, trên hình thêu và phía trên túi ngục áo bên trái có chữ EVISU; 01 (một) dây thắc lưng màu da bò dài 121cm, một đầu gắn chốt gài bằng kim loại dạng hình chữ nhật (bên trong rỗng) có kích thước 5.5 x 6.5cm, góc đầu bên phải chốt gài có khắc chữ CF, dây thắc lưng dài 114.5cm, trên thân dây có dòng chữ GIORGIO ARMANI; 02 (hai) sợi dây loại dây nylong, màu đỏ, trong đó: 01 (một) sợi dài 26.2cm, một đầu dây có cột nút thắt. 01 (một) sợ dài 76cm, trên dây có 03 (ba) nút thắt, tại nút thắt ở giữa có nối ra một sợi dây nylong cùng loại dài 17.8cm; 01 (một) sợi dây Chuối khô có chiều dài 272cm. Đây là vật chứng trong vụ án các bị can dùng vào việc phạm tội, do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
* Trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Trương Văn V có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản chi phí liên quan đến việc điều trị thương tích với tổng số tiền là: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), Bị cáo Nguyễn Thành T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Tại phiên toà gia đình bị cáo Tuyên đã bồi thường số tiền 1.500.000đ còn lại cho bị hại Vĩ, bị hại Vĩ đã nhận và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Do trước đó có xảy ra mâu thuẫn với bị cáo Nguyễn Thành T, nên vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 16/3/2023, trong lúc Trương Văn V cùng Nguyễn Văn V chạy xe đến gặp bị cáo Nguyễn Văn T tại khoảng đất trống thuộc ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang, thì Trương Văn V đã dùng dao tự chế gây thương tích cho bị cáo Nguyễn Văn T ở vùng môi 06% (Sáu phần trăm) và gây thương tích cho bị cáo Nguyễn Thành T ở chân Trái 01% (Một phần trăm). Hành vi cố ý gây thương tích của Trương Văn V đối với Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T Đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can theo Quyết định số 01/QĐ-ĐTTH, ngày 17/8/2023 theo yêu cầu của bị hại.
Khi bị Trương Văn V dùng dao tự chế chém gây thương tích nên bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T cùng câu vật Trương Văn V xuống đất và dùng dây chuối khô, dây Nilon, thắt lưng và áo trói 02 chân 02 tay của Trương Văn V lại; bị cáo Nguyễn Văn T dùng 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 134cm, nơi to nhất có đường kính là 14,5cm, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 1,650kg; bị cáo Nguyễn Thành T dùng 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 95cm, một đầu nhọn, đầu còn lại bị nứt nhiều đường, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 0,7kg là loại hung khí nguy hiểm cùng đánh vào người của Trương Văn V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15% (Mười lăm phần trăm).
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được rằng sức khỏe của con người là vốn quý, luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh. Hành vi dùng đoạn gỗ tròn là hung khí nguy hiểm đánh vào người bị hại Trương Văn V của các bị cáo là lỗi cố ý, nguyên nhân do trước đó giữa V và bị cáo Nguyễn Thành T có mâu thuẫn nên V cầm dao tự chế chém hai bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T gây thương tích, nên hai bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T câu vật V xuống đất, dùng dây trói và dùng đoạn gỗ tròn đánh vào người V gây thương tích, xét về lỗi bị hại V cũng có 1 phần lỗi do đã cầm dao tự chế rượt chém hai bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T trước. Hậu quả từ hành vi của hai bị cáo làm tổn hại đến sức khỏe của bị hại V một cách trái pháp luật là 15%. Hành vi của các bị cáo là xem thường pháp luật, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự trị an tại nơi xảy ra vụ án. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo, nhằm có tác dụng răn đe và đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, có 01 tiền án: ngày 11/11/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tại Bản án số: 89/2013/HSST (Chấp hành xong vào ngày 14/9/2019 đã xóa án tích) và 01 Tiền sự: ngày 22/12/2022 bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo Nguyễn Thành T có 01 tiền sự: Ngày 15/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền là 3.000.000đồng, bị cáo Nguyễn Thành T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền là 3.000.000đồng, nên hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển khung hình phạt xử phạt hai bị cáo bằng mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cũng đủ sức răn đe đối với hai bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Trương Văn V có đơn yêu cầu bồi thường các khoản chi phí liên quan đến việc điều trị thương tích với tổng số tiền là: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Thành T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại phiên toà gia đình bị cáo Nguyễn Thành T đã bồi thường cho bị hại V số tiền 1.500.000đ còn lại, bị hại V đã nhận đủ và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao tự chế có tổng chiều dài 48cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35,5cm, mũi dao sắc nhọn, lưỡi dao sắc, sóng dao tù; 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 134cm, nơi to nhất có đường kính là 14,5cm, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 1,650kg; 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 95cm, một đầu nhọn, đầu còn lại bị nứt nhiều đường, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 0,7kg; 01 (một) cái áo bằng vải, loại áo dài tay có sọc nhiều màu, trên thân áo phía sau có thêu hình nhiều màu không xác định, trên hình thêu và phía trên túi ngực áo bên trái có chữ EVISU; 01 (một) dây thắt lưng màu da bò dài 121cm, một đầu gắn chốt gài bằng kim loại dạng hình chữ nhật (bên trong rỗng) có kích thước 5.5 x 6.5cm, góc đầu bên phải chốt gài có khắc chữ CF, dây thắt lưng dài 114.5cm, trên thân dây có dòng chữ GIORGIO ARMANI; 02 (hai) sợi dây loại dây nylong, màu đỏ, trong đó: 01 (một) sợi dài 26.2cm, một đầu dây có cột nút thắt. 01 (một) sợi dài 76cm, trên dây có 03 (ba) nút thắt, tại nút thắt ở giữa có nối ra một sợi dây nylong cùng loại dài 17.8cm; 01 (một) sợi dây Chuối khô có chiều dài 272cm; do vật chứng các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
Đối với Nguyễn Văn V (V Lùn) có dự định mang dao cho bị cáo Nguyễn Văn T mượn để phòng thân, nhưng Trương Văn V đã dùng dao của V gây thương tích cho bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T là ngoài ý muốn nên không có căn cứ để xử lý Nguyễn Văn V với vai trò đồng phạm. Đồng thời Nguyễn Văn V không yêu cầu nhận lại cái áo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao tự chế có tổng chiều dài 48cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35,5cm, mũi dao sắc nhọn, lưỡi dao sắc, sóng dao tù; 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 134cm, nơi to nhất có đường kính là 14,5cm, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 1,650kg; 01 (một) đoạn gỗ tròn có tổng chiều dài 95cm, một đầu nhọn, đầu còn lại bị nứt nhiều đường, đoạn gỗ rắn chắc, cân nặng 0,7kg; 01 (một) cái áo bằng vải, loại áo dài tay có sọc nhiều màu, trên thân áo phía sau có thêu hình nhiều màu không xác định, trên hình thêu và phía trên túi ngục áo bên trái có chữ EVISU; 01 (một) dây thắt lưng màu da bò dài 121cm, một đầu gắn chốt gài bằng kim loại dạng hình chữ nhật (bên trong rỗng) có kích thước 5.5 x 6.5cm, góc đầu bên phải chốt gài có khắc chữ CF, dây thắt lưng dài 114.5cm, trên thân dây có dòng chữ GIORGIO ARMANI; 02 (hai) sợi dây loại dây nylong, màu đỏ, trong đó: 01 (một) sợi dài 26.2cm, một đầu dây có cột nút thắt. 01 (một) sợ dài 76cm, trên dây có 03 (ba) nút thắt, tại nút thắt ở giữa có nối ra một sợi dây nylong cùng loại dài 17.8cm; 01 (một) sợi dây Chuối khô có chiều dài 272cm.
Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSTH ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện T ; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - THA Dân sự, Hình sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Đạo |