vanban.org

Bản án 02/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 42 ( Bốn mươi hai) tháng tù.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức Gi, miễn, giảm, Gi, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Gi phải nộp 200.000 đồng (hai tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn Gi TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 42 ( Bốn mươi hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST
Ngày 16-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Gi, sinh năm 1990; nơi sinh và nơi cư trú: xóm 33, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị Nh, sinh năm 1962; vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/11/2023 cho đến nay.

- Bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 34, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định.

2. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1978; địa chỉ: Xóm 34, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị N, chị Hoàng Thị M, ông Phạm Văn Ch, anh Nguyễn Văn T, anh Vũ Văn N, anh Đồng Văn Q, anh Đỗ Văn Đ, anh Vũ Văn Ph, anh Vũ Thế A, anh Nguyễn Văn Q.

(Có mặt bị cáo; vắng mặt bị hại và người làm chứng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ làm ăn với nhau và biết Nguyễn Văn Gi có 09 bộ bàn ghế (gồm: 06 bộ bàn ghế trường kỷ bằng gỗ gụ cũ, 02 bộ trường, 01 bộ chúc tam sơn bằng gỗ gụ) cần ký gửi để lấy tiền nên chị Nguyễn Thị Đ thỏa thuận với Gi sẽ tìm người cầm bộ bàn ghế với giá 320.000.000đồng. Ngày 12/7/2020, chị Đ nhờ chị dâu là Hoàng Thị M ở xóm 37, xã HM nhận cầm số bàn ghế trên. Sau đó, Gi đã chở 9 bộ bàn ghế đến để ở nhà chị Đ và nhận số tiền 320.000.000đồng. Chị Đ nói với Gi số tiền trên là của chị M trả tiền cầm đồ cho Gi. Khoảng 13 giờ ngày 28/10/2020, Gi đến nhà chị Đ đòi tiền do chị Đ mượn tiền của Gi trước đó, khi phát hiện thấy nhà chị Đ cửa khép, không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp 06 bộ bàn ghế trường kỷ mà Gi đã cầm đồ cho chị M. Để tránh bị phát hiện, Gi dùng gậy làm hư hỏng 01 mắt camera nhãn hiệu Dahua 1200sp của nhà Đ rồi thuê xe lôi ba bánh của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu vực đường trước cổng Ủy ban nhân dân xã Hải Minh đến chở 12 chiếc ghế trường kỷ dài 200cm, rộng 55cm của 06 bộ bàn ghế trường kỷ về nhà mình. Đến 14 giờ cùng ngày, chị Đ về nhà phát hiện mất 12 chiếc ghế trường kỷ, nghi ngờ Gi lấy trộm nên đến nhà để hỏi. Gi đã thừa nhận lấy trộm 12 chiếc ghế và làm hư hỏng 01 mắt camera, sau đó Gi xin chị Đ mang trả số ghế trên và hứa sửa chữa 01 camera bị hỏng thì chị Đ đồng ý. Ngày 29/10/2020, Gi mang 12 chiếc ghế đến trả và sửa chữa 01 mắt camera cho chị Đ. Đến khoảng tháng 4/2021, chị Đ thỏa thuận bán lại 09 bộ bàn ghế mà trước đó Gi đã cầm cố cho chị M để trừ tiền mà Đ nợ chị M. Ngày 10/4/2021, chị M bán lại 09 bộ bàn ghế cho Gi với giá 220.000.000đồng. Sau đó, Gi mang về bán lại cho một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở thành phố Hải Phòng với giá 220.000.000đồng. Ngày 01/6/2021, do mâu thuẫn nợ nần giữa Gi và Đ nên Nguyễn Thị Đ làm đơn tố cáo đề nghị xử lý hành vi trộm cắp tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản của Nguyễn Văn Gi. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Gi đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản tài sản số 75/KL-HĐĐG ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 mắt camera nhãn hiệu Dahua 1200sp cũ đã qua sử dụng, trên thị trường là 650.000đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản tài sản số 80/KL-HĐĐG ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận: 12 chiếc ghế trường kỷ, đục tích, bằng gỗ gụ, nguyên mộc, có kích thước 200cm, rộng 55cm, chưa qua sử dụng, có trị giá trên thị trường là 108.000.000đồng.

Cáo trạng số 02/CT-VKS-HH ngày 21-12-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Nguyễn Văn Gi về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Gi từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-11-2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản định giá tài sản; lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ ngày 28-10-2020, lợi dụng sơ hở của gia đình chị Nguyễn Thị Đ ở xóm 34, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn Gi đã lén lút lấy trộm 12 chiếc ghế trường kỷ bằng gỗ gụ của gia đình chị Đ có tổng trị giá 108.000.000đ (một trăm linh tám triệu đồng) mang về nhà cất giấu. Hành vi của Nguyễn Văn Gi đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện đến cùng. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, Căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện để áp dụng hình phạt phù hợp hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173. Xét thấy bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội Nguyễn Văn Gi đã trả lại toàn bộ tài sản cho gia đình chị Đ. Do chị Đ, anh Tế đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự nên về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 42 ( Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-11-2023.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức Gi, miễn, giảm, Gi, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Gi phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ