vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Đức Đ được ly hôn với bà Ngô Ngọc H. Về con chung: Ông Lê Đức Đ và bà Ngô Ngọc H có 01 con chung là Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011. Theo nguyện vọng của cháu P, ông Lê Đức Đ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011 đến tuổi trưởng thàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09-01-2024
V/v:“Tranh chấp quan hệ hôn nhân,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công

2. Bà Nguyễn Thị Thọ

- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 336/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quan hệ hôn nhân, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29-12-2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Đức Đ, sinh năm 1975 (có mặt).

Trú tại: Tổ 1, khu phố 5, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Bà Ngô Ngọc H, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt).

Trú tại: Tổ 1, khu phố 5, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 9 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Đức Đ trình bày:

Ông Lê Đức Đ và bà Ngô Ngọc H chính thức chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 01/9/2011. Sau khi kết hôn ông bà có thời gian chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bà H thường xuyên nhậu nhẹt, gây gổ chửi bới xúc phạm chồng và gia đình chồng, không có trách nhiệm với gia đình. Vì con nên ông Đ vẫn cố gắng duy trì hôn nhân. Gần đây bà H còn làm ăn gây nợ nần nên đã dọn đi không còn chung sống với ông Đ nữa. Cả hai đã ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay, mỗi người lo liệu cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Nay thấy rằng tình cảm không còn, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên ông Đ có đơn yêu cầu ly hôn với bà H.

Thời gian Tòa án giải quyết vụ án, vì lý do công việc nên bà H không đến Tòa để tham gia hòa giải, ông và bà H cũng không gặp nhau, vợ chồng không ai có thiện chí muốn hàn gắn, tình cảm thực sự không còn nên ông Đ vẫn yêu cầu được ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông Đ và bà H có 01 con chung là Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011. Hiện cháu đang sống chung với ông Đ nên ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông Đ xác định mâu thuẫn đã quá căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bà H.

[2]. Tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 08-12-2023 bị đơn bà Ngô Ngọc H trình bày:

Bà H khai về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giống như ông Đ đã trình bày, bà H cũng xác nhận giữa bà và ông Đ có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều điểm không hòa hợp dẫn đến thường xuyên cãi vã, xung đột. Vì thế bà H đã dọn ra ngoài sống riêng nhưng vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú cùng với ông Đ tại Tổ 1, khu phố 5, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà và ông Đ đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau, tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà H đồng ý ly hôn với ông Đ. Về con chung: Bà và ông Đ có 01 con chung là Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011, hiện cháu P đang sống chung với ông Đ nên bà đồng ý giao con chung cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lý do công việc bà H không thể đến Tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

[4]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thẩm phán xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Về xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng theo quy định từ các Điều 93 đến Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.

- Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành tốt các quy định tại Điều 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Từ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Đ và bà H đã trầm trọng, vợ chồng đã ly thân không còn sống chung với nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên nhưng ông Đ vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc ly hôn với bà H; về con chung: Giao con chung là Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu; về án phí: ông Đ phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Đức Đ có đơn xin ly hôn, bà Ngô Ngọc H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Bà Rịa nên tranh chấp nói trên được xác định là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Ngô Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Xét về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Đức Đ và bà Ngô Ngọc H là hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, bà H thiếu trách nhiệm với gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột. Cả hai đã nhiều lần cố gắng để vợ chồng hàn gắn chung sống cùng chăm lo nuôi dạy con chung nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn. Từ tháng 9/2023 đến nay ông Đ và bà H đã ly thân, không còn chung sống, tình cảm không còn, mỗi người tự lo cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã nhiều lần vận động hòa giải nhưng ông Đ vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H vì theo ông giữa ông bà không còn tình cảm, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài từ lâu nên không thể hàn gắn.

Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, bà H có đơn trình bày thể hiện nguyện vọng là đồng ý ly hôn với ông Đ, bản thân bà H cũng đã xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau.

Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của ông Đ là có căn cứ, mâu thuẫn giữa bà H và ông Đ là có thật và trầm trọng, dẫn tới cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử chấp nhận yêu cầu của ông Đ về việc ly hôn với bà H.

. Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông Đ có 01 con chung là Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011. Hiện cháu P đang sống chung với ông Đ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Đ có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại đơn xin xét xử vắng mặt bà H cũng có nguyện vọng giao con chung cho ông Đ nuôi dưỡng. Lời khai của cháu P cũng thể hiện nguyện vọng được sống chung với cha đến tuổi trưởng thành. Do vậy, theo nguyện vọng của cháu P và để đảm bảo cho cháu điều kiện sống tốt nhất, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của ông Đ, giao cháu Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011 cho ông Đ trực tiếp nuôi duỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Việc ông Đ không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên cần công nhận.

. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ, bà H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Ông Đ phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức Đ.

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Đức Đ được ly hôn với bà Ngô Ngọc H.

+ Về con chung: Ông Lê Đức Đ và bà Ngô Ngọc H có 01 con chung là Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011. Theo nguyện vọng của cháu P, ông Lê Đức Đ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng Đức P, sinh ngày 31-5-2011 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Công nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lê Đức Đ không có yêu cầu nên không giải quyết.

2. Về án phí: Ông Lê Đức Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010113 ngày 26-9-2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Như vậy, ông Đ đã nộp xong án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09-01-2024), đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống Đ hợp lệ.

Cỡ chữ