vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Quang L Về con chung: Giao 02 con Trần Quang Đăng Khôi, sinh ngày 08/09/2015; Trần Phạm Thiên Hương, sinh ngày 04/10/2019 cho anh Trần Quang L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Phạm Thị Ngọc H khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Ngọc H ly họ với Trần Qyang L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H, tuyên xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày:
23/01/2024
V/v xin ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Như Dũng

Bà Lê Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 116/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXX-ST ngày 08/01/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn Xuân Nam, xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh

- Bị đơn: Anh Trần Quang L, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn Xuân Nam, xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký tạm trú: Số 30, ấp Bến Sắn, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc H và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, vụ án có nội dung: Chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Quang L đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh ngày 03/02/2017, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Chị và anh Linh sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị Hoa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Quang L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Quang Đăng Khôi, sinh ngày 08/09/2015; Trần Phạm Thiên Hương, sinh ngày 04/10/2019. Nguyện vọng của chị Hoa sau khi ly hôn muốn được nhường quyền nuôi 02 con cho anh Trần Quang L chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và chị Hoa không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến bị đơn anh Trần Quang L trình bày: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn anh Trần Quang L đến làm việc nhưng bị đơn không có mặt. Theo trình bày của bà Đinh Thị Hoa (mẹ của anh Trần Quang L), hiện nay anh Linh đang làm việc tại địa phương khác nhưng vẫn liên lạc với bà. Bà Đinh Thị Hoa đã nhận thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng Tòa án tống đạt cho anh Trần Quang L và cam đoan sẽ thông báo và giao lại cho anh Linh. Sau khi được bà Đinh Thị Hoa thông báo, anh Trần Quang L đã gửi bản trình bày, đơn xin xét xử vắng mặt về cho bà Đinh Thị Hoa và đề nghị bà Đinh Thị Hoa giao nộp các văn bản trên cho Tòa án thay cho anh Linh, nội dung: anh đã biết việc Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên đang thụ lý, giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc H. Hiện nay anh đang làm việc tại tỉnh Đồng Nai, vì lý do công việc nên không thể trực tiếp tại Tòa án để làm việc theo triệu tập. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, vì vậy anh đồng ý ly hôn với chị Hoa; anh và chị Hoa có 02 con chung là Trần Quang Đăng Khôi, sinh ngày 08/09/2015; Trần Phạm Thiên Hương, sinh ngày 04/10/2019, anh mông muốn được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Hoa đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; trong quá trình chung sống, anh và chị Hoa không tạo lập được tài sản gì chung, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh Trần Quang L còn đề nghị Tòa án không tiến hành phiên họp tiếp cận, công khai, giao nộp, kiểm tra chứng cứ, hòa giải và các buổi làm việc khác; đề nghị Tòa án giải quyết trong thời gian sớm nhất để anh và chị Hoasớm ổn định cuộc sống.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử có mặt đầy đủ, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; Quá trình xét xử đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng; Tòa án đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nhưng nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt các đương sự là đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57,81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử cho chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Quang L; Về con chung: Giao cho anh Trần Quang L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Quang Đăng Khôi, sinh ngày 08/09/2015; Trần Phạm Thiên Hương, sinh ngày 04/10/2019 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị Phạm Thị Ngọc H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thẩm quyền: Chị Phạm Thị Ngọc H khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Quang L, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Trần Quang L có nơi đăng ký HKTT: Thôn Xuân Nam, xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh từ trước đến nay chưa cắt khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác, do công việc nên hiện trú tại Số 30, ấp Bến Sắn, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, anh Trần Quang L nhất trí việc Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên giải quyết vụ án nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Sau khi đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn đã đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và hỏa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Quang L đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị Hoa nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm. Từ năm 2022 đến nay vợ chồng sống ly thân, không liên lạc với nhau, hai vợ chồng không tìm cách hàn gắn tình cảm. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị có nguyện vọng được ly hôn, giải phóng cho hai người để mỗi người có cuộc sống riêng, tốt đẹp hơn.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Quang L cũng cho rằng vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không liên lạc gì với nhau, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Phạm Thị Ngọc H.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau… nhưng hôn nhân giữa chị không đạt được mục đích đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Quang L.

Về con chung: Chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Quang L có hai con chung là Trần Quang Đăng Khôi, sinh ngày 08/09/2015; Trần Phạm Thiên Hương, sinh ngày 04/10/2019. Nguyện vọng của chị Hoa sau khi ly hôn muốn được nhường quyền nuôi 02 con cho anh Trần Quang L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Quang L cũng đồng ý nuôi 02 con và không yêu cầu chị Hoa phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, từ trước đến nay anh Linh là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con, và con Đăng Khôi đã trên 07 tuổi và có đơn nguyện vọng mong muốn được ở với bố. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 02 con Trần Quang Đăng Khôi; Trần Phạm Thiên Hương cho anh Trần Quang L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị Hoa không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo luật định.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H, tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Quang L

- Về con chung: Giao 02 con Trần Quang Đăng Khôi, sinh ngày 08/09/2015; Trần Phạm Thiên Hương, sinh ngày 04/10/2019 cho anh Trần Quang L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Phạm Thị Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

2. Về án phí: Buộc chị Phạm Thị Ngọc H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên theo biên lai thu tiền số 0009122 ngày 30/10/2023. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị Phạm Thị Ngọc H đã nộp đủ.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ