vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Vi Thị B được ly hôn với anh Phan Đức N.

Về con chung: Giao cho anh Phan Đức N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Phan Đức Thái K, sinh ngày 15/8/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Vi Thị B vì anh Phan Đức N chưa yêu cầu. Chị Vi Thị B được quyền thăm nom con chung, không ai… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, giao quyền nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vi Thị B được ly hôn với anh Phan Đức N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/01/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đức Thịnh và bà Tô Thị Thanh Hoa.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 159/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị B, sinh năm 2003, có mặt.

Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Phan Đức N, sinh năm 1997, vắng mặt.

Nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vi Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Đức N kết hôn ngày 25/7/2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Đến tháng 06/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đã ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được ly hôn anh Phan Đức N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phan Đức Thái K, sinh ngày 15/8/2022. Hiện nay 01 con chung đang ở với anh N. Ly hôn chị nhất trí để con chung cho anh Phan Đức N được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản: Chị và anh Phan Đức N tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Phan Đức N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vi Thị B kết hôn ngày 25/7/2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Đến cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị B, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Nếu chị B nhất quyết ly hôn thì anh cũng phải chịu.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phan Đức Thái K, sinh ngày 15/8/2022. Hiện nay 01 con chung đang ở với anh. Ly hôn anh xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung trên và không yêu cầu chị B cấp dưỡng. Anh làm công nhân thu nhập mỗi tháng 7-8 triệu đồng.

Về tài sản: Vợ chồng anh tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai phát biểu như sau: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng trong vụ án là nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị B. Đề nghị xử cho chị Vi Thị B được ly hôn anh Phan Đức N. Về con chung: Đề nghị giao cho anh Phan Đức N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Phan Đức Thái K, sinh ngày 15/8/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Vi Thị B vì anh Phan Đức N chưa yêu cầu. Về tài sản: Chị Vi Thị B và anh Phan Đức N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Vi Thị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Vi Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Phan Đức N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn đăng ký thường trú tại thị xã H, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phan Đức N có đơn xin xét xử vắng mặt nên Toà án xét xử vắng mặt anh theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vi Thị B và anh Phan Đức N được UBND phường Q, thị xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/7/2022 tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên hợp pháp. Quá trình chung sống do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, lối sống khác nhau nên xảy ra nhiều mâu thuẫn cãi vã nhau. Từ khi mâu thuẫn cho đến nay gia đình hai bên tích cực khuyên bàn vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Vi Thị B yêu cầu được ly hôn với anh Phan Đức N là có cơ sở nên cần chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Vi Thị B và anh Phan Đức N thống nhất vợ chồng có 01 con chung là Phan Đức Thái K, sinh ngày 15/8/2022. Hiện nay con chung đang ở với anh N. Ly hôn anh N xin được trực tiếp nuôi con chung trên và không yêu cầu chị B cấp dưỡng. Từ trước đến nay anh N nuôi con chung vẫn đảm bảo. Chị B cũng thống nhất cho anh N trực tiếp nuôi chung trên. Anh N không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, cần chấp nhận giao con chung trên cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị B vì anh N chưa yêu cầu. [4] Về tài sản: Chị Vi Thị B và anh Phan Đức N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Vi Thị B thỏa thuận chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 81, 82 và điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T.

Xử:

Về hôn nhân: Chị Vi Thị B được ly hôn với anh Phan Đức N.

Về con chung: Giao cho anh Phan Đức N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Phan Đức Thái K, sinh ngày 15/8/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Vi Thị B vì anh Phan Đức N chưa yêu cầu. Chị Vi Thị B được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Vi Thị B và anh Phan Đức N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Vi Thị B phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008269 ngày 13/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Vi Thị B có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Phan Đức N vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ