vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Lan A

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị Lan A ly hôn anh Vũ Văn Chư. Về án phí: Buộc chị Lưu Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lan A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0000629 ngày 18… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn không con"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Lan A
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/01/2024
"V/v ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thành Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Nga; Bà Ngô Thị Thời.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 696/2023/TLST-HNGĐ ngày 18/10/2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Lan A, sinh năm 1997.

ĐKHKTT: Khu 13, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Địa chỉ hiện nay: Số 16, ngõ phụ 26, ngõ 9, tổ 8, thị trấn An Dương, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn Chư, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Khu 13, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 14/07/2023 và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải của nguyên đơn là chị Lưu Thị Lan A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn Chư được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại UBND phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương vào ngày 01/04/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cơ bản và xuyên suốt là do anh chị bất đồng quan điểm, không tìm được tiến nói chung về mọi mặt từ nếp sống, cách nghĩ, đến cách đối nhân xử thế hàng ngày. Thời điểm đó, anh Chư lười lao động, không tu chí làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Mặt khác, bản thân chị và gia đình nhà chồng có nhiều điểm bất hòa nên không khí trong gia đình có lúc rất căng thẳng. Chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại Thanh Miện sống từ tháng 4 năm 2017, anh Chư có tìm chị về đoàn tụ một lần nhưng chị kiên quyết không về. Vợ chồng chị ly thân hơn 6 năm nay không liên lạc với nhau, mỗi người lo một cuộc sống riêng. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh Chư, vợ chồng không thể chung sống cùng nhau nên chị giữ nguyên quan điểm đề nghị tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên: Không có nên chị Lan A không đề nghị tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Văn Chư đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần đến trình bày quan điểm cũng như tham gia phiên họp, phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Sau thời điểm phiên tòa xét xử hoãn lần thứ nhất, ngày 24/01/2024 cán bộ tòa án gọi điện thoại trực tiếp cho anh Vũ Văn Chư để thông báo lại về thời gian địa điểm mở lại phiên tòa. Anh Chư xác định do anh đang đi làm xa nên không thể đến tham gia phiên tòa được, anh sẽ trao đổi lại với chị Lan A. Về đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lan A đề nghị tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của ông Vũ Văn Chín là bố đẻ anh Chư trình bày: Anh Chư và chị Lan A được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng kết hôn tại UBND phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương ngày 01/4/2016. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng vợ chồng ông tại khu 13, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Lan A lười lao động, thích hưởng thụ. Đến khoảng tháng 4/2017 chị Lan A bỏ về nhà mẹ đẻ sống. Ông đã xuống gặp gia đình chị Lan A ở xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương để khuyên bảo chị Lan A về để đoàn tụ với anh Chư nhưng chị Lan A kiên quyết không quay về. Nay chị Lan A xin ly hôn anh Chư thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Lan A và anh Chư không có con chung, tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp chung. Anh Chư hiện đang ở cùng nhà với vợ chồng ông, anh Chư đang làm nghề tự do theo các công trình xây dựng, anh Chư nói với ông là không còn tình cảm với chị Lan A, việc ly hôn là quyền của chị Lan A, anh Chư không đến tòa án làm việc. Các văn bản tố tụng cua tòa án giao, ông xin nhận thay và cam đoan sẽ giao, thông báo cho anh Chư.

Tại biên bản xác minh với ông Lê Xuân Thuyết là trưởng khu dân cư số 13 thể hiện: Ông là trưởng khu dân cư số 13, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương từ năm 2020. Về mâu thuẫn cụ thể của anh Chư và chị Lan A như thế nào ông không nắm được. Từ thời điểm ông là trưởng khu cho đến nay thì đã không thấy chị Lan A chung sống cùng gia đình nhà anh Chư. Hiện nay anh Chư đi làm ăn xa nhưng vẫn đi về qua lại và ăn ở tại nhà ông Chính. Các văn bản tài liệu của Tòa án giao cho anh Chư, ông Chính sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho anh Chư. Đối với đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lan A đề nghị tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị HĐXX: Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 273, khoản 4 Điều 147 BLTTDS, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Lan A. Đề nghị xử cho chị Lưu Thị Lan A ly hôn anh Vũ Văn Chư.

Về án phí: Chị Lưu Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lưu Thị Lan A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn là anh Vũ Văn Chư trú tại khu 13, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án, xác định chị Lưu Thị Lan A và anh Vũ Văn Chư kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương vào ngày 01/04/2016, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiến nói chung về mọi mặt từ cách làm ăn phát triển kinh tế, đến cách đối nhân xử thế hàng ngày dẫn đến tình cảm dần rạn nứt. Bản thân chị Lan A và gia đình nhà chồng có nhiều điểm bất hòa khiến các thành viên trong gia đình không có sự gắn kết, quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Đặc biệt từ tháng 04 năm 2017 chị Lan A về nhà mẹ đẻ tại Thanh Miện sống, anh chị ly thân từ đó đến nay, mỗi người lo cuộc sống riêng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện hòa giải nhưng anh Chư vắng mặt và cũng không có ý kiến gì điều đó chứng tỏ anh Chư không thiện chí để vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Nay chị Lan A xác định không còn tình cảm, không muốn chung sống cùng anh Chư. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Lan A và anh Chư đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lan A theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Chị Lưu Thị Lan A và anh Vũ Văn Chư không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên: Chị Lưu Thị Lan A xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không có công sức chung đồng thời đều không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chị Lan A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[9 ] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Lan A

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị Lan A ly hôn anh Vũ Văn Chư.

- Về án phí: Buộc chị Lưu Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lan A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0000629 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương. Chị Lan A đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Chị Lưu Thị Lan A và anh Vũ Văn Chư vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ