- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-12-2024 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quãng Thanh Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đạt Thông
2. Ông Dương Thanh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quí, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 11 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/TB-TA ngày 09 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA ngày 17 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1981, có mặt.
Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Tạm trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1977, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Tạm trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:
Vào năm 1999, chị và chồng tên Nguyễn Hoàng T do quen biết đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh năm 2007. Sau khi cưới nhau vợ chồng về sinh sống tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Được một thời gian thì vợ chồng cùng đi làm thuê tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian gần đây vợ chồng về sinh sống tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh là quê của chị hồi còn bé. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần Gia L, sinh năm 2000 và Nguyễn Trần Gia K, sinh năm 2004. Thời gian đầu cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, anh T ghen tuông, đánh đập chị. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng tuy có qua lại nhưng có tiếng nói chung để cùng nhau đoàn tụ. Nay tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
- Về con chung: Có 02 con chung nhưng đều đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 04/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hoàng T trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị M về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, về con, tài sản và nợ chung. Tuy nhiên về mâu thuẫn gia đình thì trong cuộc sống vợ chồng cũng có những cự cãi, khi sỉn rượu anh có nóng tính, có đánh chị M một vài lần, cũng có dùng dao, bứa hâm dọa chị M. Tuy nhiên anh chỉ hâm dọa chứ không có đánh hay chém gì chị M. Nay còn thương vợ con và anh cũng muốn có thêm cơ hội để gia đình được đoàn tụ, anh cam đoan sẽ sửa đổi tính tình và không đánh đập chị M nữa. Đối với các yêu cầu của chị M, anh có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Trần Thị M.
- Về con chung: Có 02 con chung nhưng đều đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn chị Trần Thị M giữ nguyên lời trình bày và yêu cầu như trong quá trình giải quyết vụ án, không bổ sung gì thêm.
Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T vắng mặt không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Thủ tục thụ lý hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt cho các đương sự đầy đủ đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T; về con chung: Các con đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị Trần Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các tình tiết, sự kiện đương sự đã thống nhất:
- Về con chung: Có 02 con chung nhưng đều đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Các tình tiết, sự kiện đương sự không thống nhất:
- Về hôn nhân: Nguyên đơn chị Trần Thị M yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T. Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T không đồng ý ly hôn với chị Trần Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị M khởi kiện anh T yêu cầu ly hôn, không yêu cầu giải quyết về con, tài sản và nợ chung. Anh T không có yêu cầu phản tố nào khác. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh T có đăng ký tạm trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị M có mặt; bị đơn anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị M:
Về hôn nhân: Chị M và anh T xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh năm 2007. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, chị M và anh T đủ điều kiện kết hôn. Căn cứ vào các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị M và anh T là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, chị M khai nhận: Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, anh T ghen tuông, đánh đập chị. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng tuy có qua lại nhưng có tiếng nói chung để cùng nhau đoàn tụ.
Anh T khai nhận: Trong cuộc sống vợ chồng cũng có những cự cãi, khi sỉn rượu anh có nóng tính, có đánh chị M một vài lần, cũng có dùng dao, bứa hâm dọa chị M. Tuy nhiên anh chỉ hâm dọa chứ không có đánh hay chém gì chị M. Nay còn thương vợ con và anh cũng muốn có thêm cơ hội để gia đình được đoàn tụ, anh cam đoan sẽ sửa đổi tính tình và không đánh đập chị M nữa.
Xét thấy gia đình là tế bào xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững. Quá trình chung sống giữa chị M và anh T chưa thống nhất với nhau về quan điểm sống, về ứng xử giao tiếp; đáng lẽ khi mâu thuẫn xảy ra anh chị phải ngồi lại tìm phương án để giải quyết mọi vấn đề bất đồng phát sinh nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình, nhưng khi xảy ra mâu thuẫn anh chị bỏ mặt, không có biện pháp hàn gắn, không quan tâm đến hạnh phúc mà anh chị đã xây dựng nhiều năm qua, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã tạo điều kiện và cho anh chị có thêm thời gian để hàn gắn lại, tuy nhiên chị M vẫn kiên quyết xin ly hôn, anh T xin đoàn tụ nhưng không có kết quả.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị M và anh T chung sống với nhau có 02 con tên Nguyễn Trần Gia L, sinh năm 2000 và Nguyễn Trần Gia K, sinh năm 2004, các con đều đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị M phải nộp án phí hôn nhân gia đình không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
2. Về con chung, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
3. Về án phí: Buộc chị Trần Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị M đã nộp theo biên lai số 0014386 ngày 17 tháng 10 năm 2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải thu. Chị M không phải nộp thêm.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Duyên Hải; - CCTHADS huyện Duyên Hải; - Các đương sự; - UBND xã Đông Hải; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quãng Thanh Trung |