- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Cho chị Thân Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 - 01 - 2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình La và bà Kiều Thị Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Đầu Xuân Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 363/2023/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Thân Thị Thúy H, sinh năm 1992, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1994, có mặt
Đều cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Thân Thị Thúy H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Nguyễn Văn V kết hôn ngày 09/11/2020, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở tự nguyện. Trước khi kết hôn, chị và anh V đều đã kết hôn với người khác nhưng đã ly hôn và có con riêng. Sau khi kết hôn chị về sống chung cùng gia đình anh V. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 02/2022 thì phát sinh mâu thuẫn và trầm trọng nhất là từ tháng 5/2023, nguyên nhân do tính tình không hợp, mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu, anh V không có biện pháp gì để dung hòa dẫn đến vợ chồng thường xuyên xô xát và chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang từ tháng 01/2024 cho đến nay. Chị xác định tình cảm không còn, vợ chồng không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị và anh V có 01 con chung là Nguyễn Huy A, sinh ngày 24/11/2021, hiện đang ở cùng anh V. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị nuôi cháu A, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận như chị H trình bày về thời điểm kết hôn, quá trình chung sống, thời điểm phát sinh và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Anh xác định vẫn còn tình cảm nhưng nếu chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Nguyễn Huy A, sinh ngày 24/11/2021, hiện đang ở cùng anh. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết giao cho anh nuôi cháu A, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thân Thị Thúy H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V; giao cho chị H trực tiếp nuôi cháu A, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con; chị H phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Chị Thân Thị Thúy H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn V; anh V có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Thân Thị Thúy H và anh Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, đến 02 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm và mâu thuẫn giữa mẹ chồng, nàng dâu dẫn đến vợ chồng thường xuyên xô xát. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Anh V mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm và nếu chị H kiên quyết ly hôn anh đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Chị Hoa xác định vợ chồng không thể hàn gắn được và kiên quyết ly hôn. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của chị H và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh V là phù hợp.
. Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị H và anh V có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy A, sinh ngày 24/11/2021, hiện đang ở cùng anh V. Ly hôn, chị H và anh V đều đề nghị Tòa án giải quyết giao cho nuôi cháu A và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy:
Nguyện vọng nuôi con của chị H và anh V là hoàn toàn tự nguyện, anh chị đều có chỗ ở và có thu nhập, đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, do cháu A còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc trực tiếp của người mẹ nên giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu A là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh V đều không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về quan hệ tài sản: Chị H và anh V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.
. Về án phí: Chị Thân Thị Thúy H nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Cho chị Thân Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
2. Giao cho chị Thân Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Huy A, sinh ngày 24/11/2021. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.
3. Chị Thân Thị Thúy H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0006843, ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tam Dương; - Chi cục THADS huyện Tam Dương; - UBND xã H, huyện S; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu |