- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Giàng Seo P yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Tráng Thị C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________________________________ Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 02 - 2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Sầm Thị Tươi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ức Trai
2. Ông Nguyễn Văn Thịnh.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Giàng Seo P, năm sinh 1975
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn C, xã U, huyện S, tỉnh Lào Cai.
Nơi làm việc: Trung tâm y tế huyện S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Tráng Thị C, năm sinh 1976
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn C, xã U, huyện S, tỉnh Lào Cai.Vắng mặt (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
3. Người phiên dịch: Chị Lù Thị N, năm sinh 1991
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn I, xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 10 năm 2023; bản tự khai ngày 01 tháng 11 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Giàng Seo P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/1992, không đăng ký kết hôn. Đến nay anh chị vẫn chưa đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 01/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do năm 2022 anh Pao chuyển công tác từ Trạm y tế xã Lùng Thẩn đến Trạm y tế thị trấn S, huyện S; sau đó tháng 5/2023 anh Pao chuyển lên công tác tại Trung tâm y tế huyện S; đến tháng 10/2023 thì anh Pao quay lại trạm y tế xã Lùng Thẩn, huyện S công tác. Trong thời gian anh Pao công tác tại Trạm y tế thị trấn S, huyện S, do đặc thù công việc anh Pao thường xuyên phải trực đêm, không thể về nhà thì chị Chứ ghen tuông và chửi anh Pao rất thường xuyên; anh Pao có giải thích nói chuyện để chị Chứ hiểu và thông cảm cho anh Pao nhưng chị Chứ không chịu hiểu mà vẫn tiếp tục ghen tuông. Do chị Chứ chửi nhiều lần và không thể giải thích cho chị Chứ hiểu được nên anh Pao đã chuyển ra ngoài thuê nhà trọ ở riêng tại thị trấn S, huyện S, anh Pao không ở với chị Chứ nữa từ tháng 5/2023 đến nay. Thực tế vợ chồng anh đã sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh Pao nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Pao yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Tráng Thị C để đảm bảo cuộc sống riêng của cả hai người.
- Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C có hai người con chung là cháu Giàng Thị Thanh X, sinh ngày 09/3/1995 và cháu Giàng A Thành, sinh ngày 24/3/1997. Nay cả hai cháu đã đều trên 18 tuổi, phát triển khỏe mạnh, bình thường nên anh Pao không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản; quyền, nghĩa vụ tài sản: Anh Giàng Seo P không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản; quyền, nghĩa vụ tài sản.
Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp.
2. Đối với bị đơn chị Tráng Thị C: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho chị Chứ nhưng chị Chứ không có văn bản trả lời ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của anh Pao. Tuy nhiên, ngày 09/01/2024, chị Tráng Thị C đã giao nộp cho Toà án 01 biên bản hoà giải vụ việc lập ngày 17/10/2023 với nội dung hoà giải vụ việc ngoại tình của anh Giàng Seo P. Ngày 06/02/2024, chị Tráng Thị C đã gửi đến Toà án đơn đề nghị với nội dung: Năm 1992, chị Chứ được anh Pao cưới hỏi về làm vợ, chị cùng chồng sống hoà thuận, chung thuỷ, khi đó anh Pao đi học thì chị Chứ cùng với bố mẹ chồng nuôi anh Pao ăn học đến khi ra trường về công tác tại xã U. Vợ chồng chị nay có hai người con chung, sau đó anh Pao có chuyển sang công tác tại trạm y tế xã khác nhưng vẫn thường xuyên về nhà cùng chị Chứ chăm lo cho hai con ăn học nên người. Khoảng tháng 6/2023, anh Pao thường xuyên không về nhà, nếu có về thì lại chửi bới, xúc phạm, đập phá đồ đạc, ném quần, váy, áo của chị Chứ ra khỏi phòng, không cho chị Chứ vào ngủ phòng chung của chị và anh Pao nên chị Chứ nghi ngờ chồng chị có quan hệ ngoại tình, bất chính nhưng chị luôn nhân nhượng vì bản thân chị là người dân tộc thiểu số, không biết chữ. Chị Chứ không đồng ý ly hôn với anh Pao. Ngoài ra, tại đơn đề nghị chị Chứ còn đề nghị Toà án xem xét, giải quyết đối với người phụ nữ mà chị cho rằng anh Pao đã có quan hệ ngoại tình. Đến ngày 16/02/2024, chị Tráng Thị C nộp đơn đề nghị Toà án xin rút lại đơn chị đã nộp ngày 06/02/2024 và không đề nghị Toà án giải quyết vấn đề gì trong đơn nữa; chị Tráng Thị C giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn với anh Pao và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt chị tại phiên toà ngày 22/02/2024.
3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý đúng quy định các Điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các Điều 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203, 233. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xét xử theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C.
- Về con chung: Không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định Pháp luật.
Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Giàng Seo P yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Ly hôn” với chị Tráng Thị C có địa chỉ nơi cư trú: Thôn C, xã U, huyện S, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S. Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/1992, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; đến nay mặc dù đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C vẫn không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền là vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nay anh Giàng Seo P yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Tráng Thị C; chị Tráng Thị C không đồng ý ly hôn với anh Giàng Seo P là không có căn cứ nên không được chấp nhận mà Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Anh Giàng Seo P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh Giàng Seo P và chị Tráng Thị C là vợ chồng.
2. Về án phí sơ thẩm: Anh Giàng Seo P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002269 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Lào Cai. Anh Giàng Seo P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện S (2);
- CCTHADS huyện S;
- UBND xã U,
(Đã ký) huyện S, tỉnh Lào Cai.
- Các đương sự;
- Lưu HSVA, TQĐ, VP.
Sầm Thị Tươi THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Hùng Lê Thị Luy
Sầm Thị Tươi
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện S (2); - CCTHADS huyện S; - UBND TT S và UBND xã Sán Chải, huyện S, tỉnh Lào Cai. - Các đương sự; - Lưu HSVA, TQĐ, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Quang Hùng Lê Thị Luy | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sầm Thị Tươi THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sầm Thị Tươi |