- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H - Trịnh Duy B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chị Phạm Thị H được ly hôn anh Trịnh Duy B.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2024/HNGĐ - ST Ngày 25-01-2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Ngọc Phan
2. Bà Mai Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 246/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/12/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST - HNGĐ ngày 28/12/2023 và Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 02/TB - MLPTXX ngày 12/01/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1999
ĐKHKTT: Thôn X, xã M, huyện C, tỉnh Thanh Hóa
2. Bị đơn: Anh Trịnh Duy B, sinh năm 1989
ĐKHKTT: Thôn X, xã M, huyện C, tỉnh Thanh Hóa
Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13/11/2023, bản tự khai ngày 01/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Trịnh Duy B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2021 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra xích mích, không có tiếng nói chung để xây dựng gia đình hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng cũng dần phai nhạt. Mâu thuẫn trầm trọng từ ngày 06/8/2022 nên chị đã về nhà ngoại ở xã K, huyện C, tỉnh Thanh Hóa để sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không quan tâm đến nhau trong suốt thời gian dài. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Duy B.
- Về con chung: Chị H và anh B không có con chung.
- Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trịnh Duy B. Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với anh Trịnh Duy B: Tòa án nhân dân huyện Nông Cống đã thực hiện tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập cho anh Trịnh Duy B. Nhưng trong thời hạn quy định anh B không nộp văn bản nêu ý kiến của mình và cũng không đến Tòa án làm việc theo Giấy triệu tập.
* Tại Biên bản xác minh ngày 07 tháng 12 năm 2023, ông Trịnh Xuân Triệu - bố đẻ của anh Trịnh Duy Bình trình bày:
Chị Phạm Thị H và anh Trịnh Duy B kết hôn với nhau vào tháng 12 năm 2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 8 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể giữa anh B và chị H như thế nào thì gia đình không biết. Từ tháng 8/2022 chị H bỏ về nhà ngoại ở xã K để ở từ đó cho đến nay. Còn anh B đi làm ở huyện T, địa chỉ cụ thể gia đình ông không nắm rõ. Gia đình chủ yếu liên lạc với anh B qua điện thoại và anh B cũng thường xuyên về nhà. Sau khi xảy ra mâu thuẫn gia đình ông đã đến nhà chị H để hòa giải và động viên chị H quay về đoàn tụ cùng anh B nhưng gia đình chị H và chị H không đồng ý mà cương quyết ly hôn anh B. Về phía anh B sau khi nhận được bản sao đơn khởi kiện và các văn bản tố tụng của Tòa án, quan điểm của anh B không muốn ly hôn với chị H nhưng vì chị H cương quyết ly hôn với anh nên anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì công việc bận nên anh không thể đến Tòa án để làm việc được; về con chung: Anh B và chị H không có con chung; về tài sản và nợ chung: Anh B và chị H không có tài sản và nợ chung.
Về các văn bản tố tụng của Tòa án: Ông cam đoan sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án sẽ thông báo ngay lại cho anh B biết và giao ngay lại khi anh B về nhà.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về tố tụng:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng của các đương sự; việc thực hiện các thủ tục tố tụng như xác minh thu thập chứng cứ, ban hành và giao các văn bản tố tụng đều đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).
+ Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đầy đủ các quy định của BLTTDS.
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình xây dựng hồ sơ và không có mặt tại phiên tòa. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
- Về nội dung:
+ Chị H và anh B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/12/2021, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho chị H được ly hôn anh B.
+ Về con chung: Chị H và anh B không có con chung.
+ Về tài sản chung: Chị H và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Anh Trịnh Duy B có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã M, huyện C, tỉnh Thanh Hóa nên chị Phạm Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nông Cống giải quyết việc ly hôn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 36 và Điều 39 BLTTDS.
Anh Trịnh Duy B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh B vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS để xét xử vắng mặt anh B là đúng với quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2. 1]. Hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Trịnh Duy B dựa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Đánh giá về thực trạng quan hệ vợ chồng: Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2022 đến nay, không quan tâm đến nhau. Tại phiên tòa chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ quan điểm ly hôn. Về phía anh B, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh B vẫn vắng mặt. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn anh B là phù hợp.
[2. 2]. Về con chung: Chị H và anh B không có con chung.
[2. 3]. Về tài sản và nợ chung: Chị H và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chị Phạm Thị H được ly hôn anh Trịnh Duy B.
2. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống theo biên lai thu số AA/2022/0005966 ngày 13/11/2023. Chấp nhận chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt chị H, vắng mặt anh B. Chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Bình được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Nông Cống; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS H. Nông Cống; - UBND xã K; - Lưu hs, vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA (đã ký) Trịnh Thị Hà |